Bài giảng Ngữ văn 11 - Tiết 1,2, Bài: Vào phủ Chúa Trịnh
Bạn đang xem tài liệu "Bài giảng Ngữ văn 11 - Tiết 1,2, Bài: Vào phủ Chúa Trịnh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bai_giang_ngu_van_11_tiet_12_bai_vao_phu_chua_trinh.ppt
Nội dung tài liệu: Bài giảng Ngữ văn 11 - Tiết 1,2, Bài: Vào phủ Chúa Trịnh
- Tiết 1 - 2 Vào phủ chúa trịnh (Trích Thượng kinh ký sự - Lê Hữu Trác)
- VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH I. TÌM HIỂU CHUNG 1. Tác giả - Lê Hữu Trác (1724 – 1791) hiệu là Hải Thượng Lãn Ông - Sinh ra ở Hải Dương (nay thuộc Hưng Yên) - Là một danh y, nhà văn, nhà thơ lớn nửa cuối thế kỉ XVIII - Ông là tác giả của bộ sách y học nổi tiếng Hải thượng y tông tâm lĩnh
- VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH I. TÌM HIỂU CHUNG 1. Tác giả 2. Tác phẩm - Đoạn trích được rút ra từ Thượng kinh kí sự, tập kí sự bằng chữ Hán hoàn thành năm 1783 - Cuối bộ Hải thượng y tông tâm lĩnh- ghi lại việc tác giả được triệu vào phủ cúa để khám bệnh kê đơn cho thế tử.
- I. TÌM HIỂU CHUNG II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
- BỐI CẢNH THỜI VUA LÊ – CHÚA TRỊNH
- Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê. Sáu năm sau, năm Quý Tị (1533), con của vua Lê Chiêu Tông là Lê Ninh (cũng có tên khác là Lê Huyến), được Nguyễn Kim tôn lên ngôi vua ở Thanh Hoa, đó là vua Lê Trang Tông (1533 - 1548), người đứng đầu Nam triều. Như vậy, Nam triều là triều Lê, nhưng thực chất, mọi quyền bính đều nằm trong tay Nguyễn Kim. Năm 1545, Nguyễn Kim mất, con rể của Nguyễn Kim là Trịnh Kiểm đã thu hết quyền hành về mình. Manh nha của chính quyền vua Lê - chúa Trịnh bắt đầu xuất hiện kể từ đó, nhưng dẫu sao thì địa vị của vua Lê cũng không đến nỗi quả kém cỏi. Các vua nối tiếp như Lê Trung Tông (1548 - 1556), Lê Anh Tông (1556 - 1573) và Lê Thế Tông (1573 - 1599), tuy bị chúa Trịnh (trước là Trịnh Kiểm, sau là Trịnh Tùng) ra sức lấn át, thậm chí là bị giết (như trường hợp chúa Trịnh Tùng giết vua Lê Anh Tông năm 1573) nhưng tiếng nói của Hoàng đế vẫn còn có người nghe và về hình thức, chính quyền vẫn là một mối, đứng đầu là vua Lê. Sau khi đã đè bẹp được những lực lượng chủ yếu nhất của Nam triều (1592), uy danh của Trịnh Tùng trở nên lừng lẫy, vua Lê Thế Tông trẻ tuổi và lắm bệnh tật, bị coi thường, thi thoảng, Trịnh Tùng chỉ hỏi qua đôi việc cho có lệ mà thôi. Năm 1599, vua Lê Thế Tông lâm bệnh nặng và mất vào ngày 24 tháng 8, thọ 32 tuổi. Bốn tháng trước khi vua Lê Thế Tông mất, Trịnh Tùng tìm đủ mọi cách để thúc ép nhà vua phong tước vương cho mình, và ngay sau khi được phong, Trịnh Tùng đã tự ý lập phủ đệ riêng. Thực trạng cung vua phủ chúa bắt đầu có kể từ đó.
- Bởi có quyền uy ngày một cao cả, Tùng muốn được phong danh vị tước Vương, bèn sai người vào xin với Nhà vua. Vua bất đắc dĩ mà phải y cho, sai quan Thái tể là Hoàng Đình Ái đem sách thư đến, phong Tùng làm Bình An Vương, lại ban thêm cả Ngọc Toản (tức cái chén của vua dùng để rót rượu tế - ND), Mao Tiết (lá cờ nhà vua dùng khi có việc phải xuất hành, ở đầu cán có ngù, tết bằng lông - ND) và Hoàng Việt (là cái búa vàng, vật nhà vua dùng khi đi đánh dẹp - ND). Tùng được mở phủ chúa và lập bộ máy quan lại riêng. Từ đấy, chính sự trong nước do Tùng quyết định, của cải, thuế khóa và quân lính... hết thảy đều dồn vào phủ chúa. Phần vua Lê chỉ có một ngàn xã làm bổng lộc, gọi là thượng tiến, quân lính túc trực và hộ vệ trong nội điện chỉ có 5000 người, 7 thớt voi và 20 chiếc thuyền rồng. Nhà vua chỉ còn mặc áo long bào, cầm hốt ngọc để nhận lễ triều yết mà thôi.. Tùng nhận sách phong xong thì vào triều lạy tạ vua Lê. Khi về phủ chúa, trăm quan đều lạy mừng, Tùng mở đại yến và ban thưởng tiền, lụa cho quan lại, kẻ nhiều người ít khác nhau. Họ Trịnh đời đời được tập phong tước Vương là bắt đầu từ Tùng vậy.
- SƠ ĐỒ Hành trình vào phủ chúa
- I. TÌM HIỂU CHUNG - Đường vào phủ: qua rất nhiều lần cửa, những II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN dãy hành lang quanh co nối tiếp nhau 1. Quang cảnh và cung cách sinh hoạt - Vườn hoa trong phủ: cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng trong phủ chúa mùi hương, những cái cây lạ lùng, những hò đá a. Quang cảnh kì lạ, điếm Hậu mã quân túc trực làm bên hồ - Nhà cửa: đại đường, quyển bồng, gác tía, cao và rộng - Đồ dùng: đồ nghi trượng sơn son thếp vàng, mâm vàng chén bạc - Nội cung thế tử: tối om, nhiều lớp trướng gấm, đèn sáp lấp lánh, hương hoa ngạt ngào, màu mặt phấn và màu áo đỏ Phủ chúa là nơi thâm nghiêm, kín cổng cao tường, xa hoa tráng lệ nhưng không khí ngột ngạt, tù đọng
- I. TÌM HIỂU CHUNG - Phải có thánh chỉ, có thẻ mới được vào II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN - Có một guồng máy phục vụ đông đúc, tấp nập: 1. Quang cảnh và cung cách sinh hoạt người giữ cửa, vệ sĩ, quan truyền chỉ, hậu mã trong phủ chúa quân, tiểu hoàng môn, thị vệ, quân sĩ, các danh y b. Cung cách sinh hoạt của 6 cung-2 viện, các phi tần, người hầu, cung nhân - Lời xưng hô, bẩm tấu đều kính cẩn, lễ phép; lệ kị huý: thánh thượng, yết kiến, hầu mạch; kiêng từ uống thuốc-thay bằng dùng trà - Khám bệnh cho thế tử phải tuân theo một loạt phép tắc: vào ra phải lạy 4 lạy, xem khám thân hình phải xin phép thế tử, không được thấy mặt chúa, xem bệnh xong chỉ được phép viết tờ khải để dâng Phủ chúa là chốn quyền uy tối thượng, uy thế nghiêng trời, lấn lướt cung vua.
- I. TÌM HIỂU CHUNG II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN 1. Quang cảnh và cung cách sinh hoạt trong phủ chúa Tiểu kết: Quang cảnh và cung cách sinh hoạt đã phản ánh sự cao sang, quyền uy cùng cuộc sống hưởng thụ cực điểm của chúa Trịnh. -> Giá trị hiện thực.
- I. TÌM HIỂU CHUNG II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN 2. Thái độ, tâm trạng của tác giả khi “vào phủ chúa Trịnh” a. Thái độ - Thể hiện gián tiếp: miêu tả, ghi chép tỉ mỉ, đầy đủ quang cảnh và cung cách sinh hoạt xa hoa, kiểu cách trong phủ chúa. Dù có lời khen ngợi nhưng tác giả tỏ ra - Thể hiện trực tiếp: quan sát, lời bình, suy nghĩ – dửng dưng, thờ ơ; thấp thoáng một nhận xét cảnh phủ chúa “thực khác hẳn người chút mỉa mai, châm biếm. thường”, làm bài thơ, cảm thán “cả trời Nam sang nhất là đây”
- I. TÌM HIỂU CHUNG II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN 2. Thái độ, tâm trạng của tác giả khi “vào phủ chúa Trịnh” b. Tâm trạng khi kê đơn cho thế tử - Lí giải căn bệnh: do ở chốn màn che, trướng phủ; ăn quá no, mặc quá ấm -> tạng phủ yếu, LHT là một thầy thuốc có tài năng, nguyên khí hao mòn trung thực, kiên quyết bảo vệ quan - Đấu tranh, giằng co giữa một người thầy thuốc điểm, có y đức. có lương tâm và sự ràng buộc của danh lợi -> quyết định chữa bệnh theo đúng lương tâm người thầy thuốc.
- I. TÌM HIỂU CHUNG II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN 2. Thái độ, tâm trạng của tác giả khi “vào phủ chúa Trịnh” Tiểu kết: Vẻ đẹp con người LHT - Là 1 thầy thuốc tài năng và đức độ - Là 1 nhân cách cao đẹp, coi thường lợi danh
- I. TÌM HIỂU CHUNG II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN 3. Nghệ thuật - Quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực, tả cảnh sinh động - Đan xen văn ký sự và thơ ca làm tăng tính trữ tình - Bộc lộ cái tôi có nhân cách và tài năng.
- I. TÌM HIỂU CHUNG II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN DẶN DÒ III. TỔNG12 KẾT - Phản ánh sự xa hoa và quyền lực to lớn của - Vào Classroom lấy bài, ghi chép đầy đủ. Trịnh Sâm - Học thuộc 2 nội dung chính của bài: quang - Bày tỏ thái độ coi thường danh lợi của tác giả cảnh, sinh hoạt trong phủ chúa và thái độ, tâm trạng tác giả. - Biết lấy một số dẫn chứng tiêu biểu để chứng minh sự xa hoa, quyền uy và vẻ đẹp nhân cách Lê Hữu Trác. - Biết liên hệ tác phẩm cùng thời (Vũ trung tuỳ bút); liên hệ thực tế hiện nay. - Xem trước bài Tự tình, Câu cá mùa thu

