Đề thi khảo sát chất lượng lần 2 Ngữ văn 9 - Năm học 2021-2022 - Phòng GD&ĐT Yên Lạc (Có đáp án)
Bạn đang xem tài liệu "Đề thi khảo sát chất lượng lần 2 Ngữ văn 9 - Năm học 2021-2022 - Phòng GD&ĐT Yên Lạc (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_thi_khao_sat_chat_luong_lan_2_ngu_van_9_nam_hoc_2021_2022.docx
Nội dung tài liệu: Đề thi khảo sát chất lượng lần 2 Ngữ văn 9 - Năm học 2021-2022 - Phòng GD&ĐT Yên Lạc (Có đáp án)
- PHÒNG GD&ĐT YÊN LẠC ĐỀ THI KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG LỚP 9 LẦN 2 NĂM HỌC 2021 - 2022 MÔN NGỮ VĂN Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian giao đề. I. PHẦN TRẮC NGHIỆM (2,0 điểm) Đọc đoạn thơ sau và viết ra tờ giấy thi chữ cái in hoa trước đáp án đúng. “Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về” (Ngữ văn 9, tập 2) Câu 1. Đoạn thơ trên trích từ tác phẩm nào? A. Mùa xuân nho nhỏ B. Sang thu C. Viếng lăng Bác D. Nói với con Câu 2. Tác phẩm đó được tác giả viết vào năm nào? A. 1977 B. 1978 C. 1979 D. 1980 Câu 3. Câu thơ: “Sương chùng chình qua ngõ” sử dụng biện pháp nghệ thật nào? A. Ẩn dụ B. Hoán dụ C. So sánh D. Nhân hóa Câu 4. Câu thơ: “Hình như thu đã về” có chứa thành phần biệt lập gì? A. Tình thái B. Cảm thán C. Gọi - đáp D. Phụ chú II. PHẦN TỰ LUẬN (8,0 điểm) Câu 5 (3,0 điểm). Em hãy viết một đoạn văn bày tỏ suy nghĩ về lòng vị tha trong cuộc sống. Trong đoạn văn, có sử dụng thành phần biệt lập tình thái. Gạch chân dưới thành phần biệt lập đó. Câu 6 (5,0 điểm). Cảm nhận của em về đoạn thơ sau: Mùa xuân người cầm súng Ta làm con chim hót Lộc giắt đầy trên lưng Ta làm một cành hoa Mùa xuân người ra đồng Ta nhập vào hòa ca Lộc trải dài nương mạ Một nốt trầm xao xuyến. Tất cả như hối hả Tất cả như xôn xao... Đất nước bốn ngàn năm Một mùa xuân nho nhỏ Vất vả và gian lao Lặng lẽ dâng cho đời Đất nước như vì sao Dù là tuổi hai mươi Cứ đi lên phía trước. Dù là khi tóc bạc. (Mùa xuân nho nhỏ, Thanh Hải, Ngữ văn 9, Tập 2) Hết (Thí sinh không được sử dụng tài liệu)
- PHÒNG GD&ĐT YÊN LẠC HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI THỬ VÀO THPT LẦN 2, NĂM HỌC 2021 - 2022 MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 9 I.PHẦN TRẮC NGHIỆM (2,0 điểm) Mỗi câu đúng được 0,5 điểm. Câu 1 2 3 4 Đáp án B A D A II. PHẦN TỰ LUẬN (8,0 điểm) Câu 5 (3,0 điểm) * Yêu cầu về kĩ năng: Học sinh biết viết đoạn văn nghị luận xã hội có cấu trúc chặt chẽ, lập luận rõ ràng, diễn đạt trôi chảy, không mắc các lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp. * Yêu cầu về kiến thức: Học sinh có thể diễn đạt theo nhiều cách khác nhau nhưng cần có các ý cơ bản sau: Phần Nội dung Điểm Mở Dẫn dắt và nêu vấn đề nghị luận: Lòng vị tha là một trong những 0,25 đoạn phẩm chất tốt đẹp mà mỗi người cần có để hoàn thiện nhân cách. Thân * Giải thích và nêu biểu hiện. 0,75 đoạn - Vị tha có nghĩa là sống vì người khác, không ích kỉ, không vì riêng mình, không mưu lợi cá nhân, không kì vọng được ghi nhận hay đền đáp. - Người có lòng vị tha luôn sống hòa nhã, thân thiện với mọi người, dễ cảm thông, biết yêu thương, chia sẻ, sẵn sàng tha thứ lỗi lầm, sai trái của của người khác khi họ biết ăn năn, sửa lỗi. * Bàn luận 1,0 + Ý nghĩa của lòng vị tha trong cuộc sống - Với bản thân: Người có lòng vị tha mới có được đức hi sinh, tinh thần xả thân, chiến thắng được lòng vị kỉ, chủ nghĩa cá nhân và luôn được mọi người yêu mến, nể trọng. Lòng vị tha giúp ta sống bình an, thanh thản tâm hồn. - Với xã hội: Lòng vị tha có thể cảm hóa được cái ác, cái xấu, chuyển hóa hoàn cảnh xấu trở nên tốt đẹp hơn. Lòng vị tha của
- con người là cơ sở để xây dựng nên một xã hội tốt đẹp, văn minh. Lối sống vị tha phù hợp với xu thế của thời đại mới, thời đại toàn cầu hóa trên cơ sở hợp tác và chia sẻ. ( Học sinh lấy dẫn chứng trong thực tế hoặc văn học) + Mở rộng - Sống vị tha không có nghĩa là bao che, dung túng cho những khuyết điểm, những thói hư tật xấu của người khác. - Phê phán lối sống vị kỉ, chỉ biết sống cho bản thân mình, lạnh lùng, vô cảm trước nỗi đau của người khác. * Bài học nhận thức và hành động: 0.25 - Lòng vị tha là một phẩm chất cần có ở mỗi con người. - Trong cuộc sống cần biết lắng nghe, đồng cảm, sẻ chia; biết sống vì người khác; biết bao dung, tha thứ cho người khác và cho cả bản thân mình. Kết - Khẳng định ý nghĩa, tầm quan trọng của lòng vị tha. 0,25 đoạn - Liên hệ bản thân. Đoạn văn có câu văn sử dụng thành phần biệt lập tình thái, gạch 0,5 chân dưới thành phần tình thái. Câu 6 (5,0 điểm) * Yêu cầu về kĩ năng: Học sinh biết viết bài văn nghị luận về tác phẩm thơ ( hoặc đoạn trích thơ). Bài viết có bố cục đầy đủ, rõ ràng, lập luận chặt chẽ, mạch lạc, cảm xúc chân thực, diễn đạt trôi chảy, không mắc các lỗi dùng từ, chính tả, ngữ pháp. * Yêu cầu về kiến thức: Học sinh có thể trình bày bằng nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo những ý cơ bản sau: Phần Nội dung Điểm Mở bài - Giới thiệu về tác giả, tác phẩm. - Giới thiệu đoạn trích 0,25 Thân 1. Khái quát bài - Hoàn cảnh ra đời bài thơ: Bài thơ được viết năm 1980 khi Thanh Hải đang nằm trên giường bệnh, không bao lâu trước khi ông qua 0,5 đời. Bài thơ như một lời tâm niệm chân thành, lời gửi gắm tha thiết của nhà thơ để lại cho đời. - Bốn khổ thơ đã diễn tả cảm xúc của nhà thơ trước mùa xuân đất nước và khát vọng được hòa nhập, cống hiến cho cuộc đời chung, cho đất nước.
- 2. Cảm nhận về đoạn thơ. a. Cảm xúc của nhà thơ trước mùa xuân đất nước. * Hình ảnh và sức sống của mùa xuân đất nước được nhà thơ 2,0 cảm nhận qua hình ảnh lộc xuân gắn với “người cầm súng” và “người ra đồng”. ( Dẫn và phân tích khổ thơ 1) - Hai câu thơ “ Mùa xuân trên lưng” gợi liên tưởng đến những người chiến sĩ ra trận ( biểu trưng cho nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ đất nước), trên vai, trên lưng họ có vành lá ngụy trang là chồi non, lộc biếc của mùa xuân thiên nhiên. Hình ảnh người lính ra trận như mang theo sức sống của cả dân tộc. - Hai câu thơ “ Mùa xuân nương mạ” nói đến những người lao động ươm mầm cho sự sống trên cánh đồng quê hương ( biểu trưng cho nhiệm vụ lao động xây dựng đất nước). -> Tác giả đã tạo nên sức gợi cảm cho câu thơ bằng hình ảnh “lộc” gắn với người cầm súng và người ra đồng. Mùa xuân của đất trời đọng lại trong hình ảnh lộc non đi theo người cầm súng và người ra đồng, hay chính họ đã đem mùa xuân đến mọi nơi trên đất nước? * Hình ảnh và sức sống của mùa xuân đất nước được nhà thơ cảm nhận qua nhịp điệu hối hả, âm thanh xôn xao và niềm tin tưởng vào tương lai tươi sáng của đất nước . ( Dẫn và phân tích khổ thơ 2) - Hai từ láy hối hả, xôn xao và phép điệp cấu trúc câu không chỉ diễn tả không khí sôi động, khẩn trương của mùa xuân đất nước mà còn diễn tả chính xác cái náo nức như reo vui trong tâm hồn nhà thơ trước tinh thần lao động khẩn trương của con người. Sức sống của đất nước, của dân tộc cũng được tạo nên từ sự hối hả, náo nức của người cầm súng, người ra đồng. - Từ sự suy ngẫm về đất nước với lịch sử bốn nghìn năm, với những thăng trầm, những “ vất vả và gian lao”, nhà thơ bộc lộ niềm tự hào về đất nước. Hình ảnh so sánh: Đất nước như vì sao là hình ảnh so sánh đẹp, mang nhiều ý nghĩa. Qua đó, nhà thơ bộc lộ niềm tự hào về một đất nước anh hùng và giàu đẹp, mãi trường tồn cùng vũ trụ; niềm tin đất nước sẽ tỏa sáng như những vì sao trong hành trình đi đến tương lai. Phó từ “cứ” kết hợp với từ “ đi lên” thể hiện niềm lạc quan, tin tưởng về sức sống của quê hương, đất nước. b. Ước nguyện của nhà thơ trước mùa xuân đất nước. 2,0 ( Dẫn và phân tích khổ thơ 3) - Nhà thơ ước nguyện làm con chim hót trong giọng hót của muôn loài chim dâng cho đời tiếng ca vui; làm bông hoa trong hương sắc của muôn hoa; làm nốt trầm xao xuyến trong bản hòa tấu
- muôn điệu. Điệp ngữ “Ta làm” đã diễn tả một cách chân thành và tha thiết khát vọng được hòa nhập vào cuộc sống của đất nước, được cống hiến phần tốt đẹp- dù nhỏ bé của mình cho cuộc đời chung, cho đất nước. Sự cống hiến ấy cũng tự nhiên như con chim mang đến tiếng hót, bông hoa cho sắc cho hương ( Dẫn và phân tích khổ thơ 4) - Hình ảnh “Mùa xuân nho nhỏ” là hình ảnh ẩn dụ đầy sáng tạo và độc đáo của Thanh Hải. Nhà thơ nguyện làm một mùa xuân, nghĩa là sống đẹp, sống với tất cả sức sống tươi trẻ của mình nhưng rất khiêm nhường là một mùa xuân nhỏ góp vào mùa xuân lớn của đất nước, của cuộc đời chung. - Điệp từ “ dù là” khẳng định mạnh mẽ khát vọng của nhà thơ giữ mãi sức xuân để cống hiến cho đất nước, sự cống hiến ấy là suốt đời, là mãi mãi bất chấp thời gian và tuổi tác, cống hiến khi ở tuổi hai mươi và khi tóc đã bạc và cống hiến với tất cả sự khiêm tốn, thiết tha, trân trọng “ lặng lẽ dâng”. -Từ chỗ xưng tôi ở đầu bài thơ bộc lộ cảm hứng trữ tình trước mùa xuân thiên nhiên, nhà thơ chuyển sang xưng ta và ẩn đi trong hình ảnh Một mùa xuân nho nhỏ rất phù hợp để nói lên ước nguyện cao đẹp của nhà thơ và cũng là của chung mọi người. Mỗi người chỉ là một mùa xuân nhỏ góp vào mùa xuân lớn của đất nước. 3. Đánh giá Về nghệ thuật , nội dung của đoạn thơ: - Bằng thể thơ năm chữ có nhạc điệu trong sáng, tha thiết, gần gũi 0,5 với dân ca; hình ảnh thơ vừa tự nhiên, giản dị vừa giàu ý nghĩa biểu tượng ( cành hoa, con chim, mùa xuân); các biện pháp tu từ so sánh, điệp ngữ nhà thơ đã thể hiện sinh động tình cảm yêu mến và gắn bó với đất nước, ước nguyện chân thành được cống hiến cho đất nước, góp một mùa xuân nho nhỏ của mình vào mùa xuân lớn của dân tộc. - Đặt trong hoàn cảnh ra đời, vượt lên đau đớn của bệnh tật, Thanh Hải vẫn sáng lên tình yêu cuộc sống mãnh liệt, một khát vọng mạnh mẽ được cống hiến cả cuộc đời mình, được hóa thân vào mùa xuân đất nước. Kết bài - Khẳng định lại giá trị của đoạn trích. 0,25 - Nêu cảm nghĩ của bản thân. Giám khảo cho điểm tối đa khi bài viết đảm bảo tốt hai yêu cầu về kiến thức và kĩ năng làm bài, cần trân trọng những bài viết sáng tạo, có chất văn. Lưu ý: Điểm của bài thi là điểm tổng các câu cộng lại; cho điểm từ 0 – 10. Điểm lẻ làm tròn tính đến 0.25.

