Đề thi khảo sát năng lực học sinh Ngữ văn 9 - Năm học 2020-2021 (Có đáp án)

doc 4 trang vantien 18/03/2026 1060
Bạn đang xem tài liệu "Đề thi khảo sát năng lực học sinh Ngữ văn 9 - Năm học 2020-2021 (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docde_thi_khao_sat_nang_luc_hoc_sinh_ngu_van_9_nam_hoc_2020_202.doc

Nội dung tài liệu: Đề thi khảo sát năng lực học sinh Ngữ văn 9 - Năm học 2020-2021 (Có đáp án)

  1. PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỀ KHẢO SÁT NĂNG LỰC HỌC SINH *** Môn thi: Ngữ văn 9 ĐỀ GIỚI THIỆU Thời gian làm bài: 120 phút, không kể giao đề (Đề thi gồm: 01 trang) Phần I. Đọc hiểu (3.0 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu (Câu 1 đến Câu 4). Sẻ chia từng chiếc khẩu trang Bạn đã nghe đến chuyện phát bánh mì miễn phí cho người nghèo hay những thùng trà đá miễn phí để bên đường. Hoặc những chai nước suối được chính các anh cảnh sát giao thông phát cho người dân trên những nẻo đường về quê ăn Tết. Thì trong mùa dịch, chính là những bịch khẩu trang được phát miễn phí khắp các ngõ phố từ Bắc vô Nam, không tỉnh nào là không có. Tại các công viên hay khu tập trung công cộng, bạn sẽ bắt gặp nhiều bạn sinh viên cầm trên tay những chiếc khẩu trang đi phát cho những người chưa có cơ hội mua được. Mọi người sẵn sàng chia sẻ khẩu trang khi bắt gặp người đang không có khẩu trang. Khi một số cửa hàng tăng giá khẩu trang, thì những cửa hàng khác lại không bán khẩu trang. Họ chỉ phát miễn phí. Người dân đến mua hàng hay đi qua có thể ghé qua tự lấy khẩu trang miễn phí nếu cần. Chỉ cần bước chân vào một hiệu thuốc, nhân viên sẽ hỏi bạn có cần khẩu trang không và tự động để khẩu trang vào túi cho bạn. Và tất nhiên đó là miễn phí. (Trích Câu chuyện về tình dân tộc Việt mùa đại dịch từ virus Corona) Câu 1.Nêu phương thức biểu đạt chính của đoạn văn trên Câu 2.Tìm và gọi tên một phép liên kết có trong đoạn văn thứ nhất? Câu 3.Những việc làm của các bạn sinh viên và các cửa hàng có ý nghĩa như thế nào trong việc phòng chống dịch bệnh? Câu 4.Theo em việc làm của rất nhiều cá nhân và tập thể trong văn bản trên có cần được ca ngợi không? Vì sao? Bản thân em cần phải làm gì để cùng chung tay đẩy lùi dịch bệnh? Phần II. Làm văn (7 điểm) Câu 1 ( 2điểm) Từ nội dung của phần đọc hiểu em hãy viết 1 đoạn văn trình bày suy nghĩ của em về quan điểm “Cho đi là còn mãi mãi” Câu 2 ( 5điểm) Cảm nhận về vẻ đẹp của đoàn thuyền đánh cá qua khổ thơ đầu và khổ thơ cuối trong bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận. “Mặt trời xuống biển như hòn lửa. Sóng đã cài then, đêm sập cửa. Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi, Câu hát căng buồm cùng gió khơi. ... Câu hát căng buồm với gió khơi, Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời. Mặt trời đội biển nhô màu mới, Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.” ----Hết-----
  2. PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HƯỚNG DẪN CHẤM *** ĐỀ KHẢO SÁT NĂNG LỰC HỌC SINH NĂM HỌC 2020 – 2021 Môn thi: NGỮ VĂN Câu Đáp án Điểm PhầnI 0.5 Câu 1 - Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên: tự sự. Câu 2 - Một phép liên kết: lặp từ “khẩu trang” ở câu (4) và câu (5). 0.5 Câu 3 - Việc làm của các bạn sinh viên và các cửa hàng phát khẩu trang miễn phí có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo vệ sức khỏe của mọi người và phòng chống dịch bệnh. Hành động đó cũng là biểu tượng đẹp của 1 sự sẻ chia trong cuộc sống. Câu 4 - Theo em việc làm của rất nhiều cá nhân và tập thể trong văn bản trên 1 cần được ca ngợi vì đó là những nghĩa cử cao đẹp vì những hành động ấy thể hiện sự tương thân tương ái của đồng bào trong hoàn cảnh khó khăn của đất nước. - Để chung tay đẩy lùi dịch, bản thân em: + Chấp hành quy định cách li của Nhà nước. + Tuyên truyền nâng cao ý thức cách li đối với mỗi người. + Chung tay giúp đỡ người khó khăn trong điều kiện bản thân có thể làm được. Phần Học sinh phải đảm bảo những yêu cầu về: II 1. Cấu trúc đoạn văn. Câu 1 2. Đúng vấn đề nghị luận. 3. Nội dung nghị luận: 1. Giới thiệu vấn đề - Từ nội dung phần đọc hiểu => giới thiệu vấn đề - Đoạn trích gợi lên cho ta bài học sâu sắc về tình yêu thương, về lẽ sống “cho đi là còn lại mãi mãi.” 2. Bàn luận vấn đề + Khẳng định: - Những thứ ta cho đi sẽ ở lại cùng với những người được đón nhận. Quan trọng không phải ta cho đi cái gì mà người nhận sẽ cảm nhận được tấm lòng của người cho đi. - Cho đi không phải là ta đang mất đi mà là ta đang nhận lại : . - Người cho có thể không còn trên thế gian nhưng hành động san sẻ yêu thương ấy thì còn mãi vì nó là biểu hiện sáng trong của tình người, tình đời. - Cuộc đời luôn có những bất hạnh, cho đi một phần mình là san sẻ bớt một chút gánh nặng với những người kém may mắn hơn. - Từ việc cho đi của một người, lan tỏa những hành động yêu thương đến những người khác. - Dẫn chứng: CTHCM đã cống hiến cả cuộc đời để đến bây giờ bác còn mãi với non sông - Nếu là con chim chiếc lá
  3. Con chin phải hót chiếc lá phải xanh Lẽ nào vay mà không phải trả Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình 3.BLMR - Phê phán : Chúng ta nhận thức rõ cho đi là còn lại mãi mãi nhưng cũng còn đó những cá nhân con người ích kỉ, chỉ biết nhận về cho mình mà không biết chia sẻ với người khác. - Bài học: Biết cho đi. Việc cho đi không nhất thiết phải là hiến tặng một thứ gì đó, đơn giản chỉ là cho đi một lời nói yêu thương, một cử chỉ ân cần, một cái ôm... Giá trị của việc cho đi nằm ở tinh thần. JJ. - Là một học sinh, em đã được đón nhận rất nhiều may mắn, hạnh phúc, em cũng phải cho đi để cảm thấy cuộc đời ý nghĩa, đáng sống hơn. 4.Sáng tạo: Có quan điểm riêng, mới mẻ, phù hợp với chuẩn mực đạo đức, văn hóa, pháp luật. 5. Chính tả, ngữ pháp: Chuẩn chính tả, chuẩn ngữ pháp và ngữ ngữ nghĩa Tiếng Việt. Học sinh phải đảm bảo những yêu cầu về: - Cấu trúc bài văn nghị luận văn học. 0,25đ - Đúng vấn đề nghị luận: Cảm nhận về vẻ đẹp của đoàn thuyền đánh 0,25đ cá qua khổ đầu và khổ cuối bài thơ. - Triển khai vấn đề nghị luận theo trình tự. 4 đ 1. Mở bài Giới thiệu tác giả, tác phẩm Giới thiệu đoạn trích: Đây là hai khổ thơ đầu miêu tả cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi đầy hào hứng và khổ thơ cuối khi đoàn thuyền trở về. 2. Thân bài 2.1 Cảnh ra khơi và tâm trạng náo nức của con người. a. Cảnh hoàng hôn trên biển. – Cảnh mặt trời lặn được miêu tả thật độc đáo và ấn tượng: Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then đêm sập cửa – Nghệ thuật so sánh nhân hóa cho thấy cảnh biển hoàng hôn vô cùng tráng lệ, hùng vĩ. Mặt trời được ví như một hòn lử khổng lồ đang từ từ lặn xuống. Trong hình ảnh liên tưởng này, vũ trụ như một ngôi nhà lớn, với đêm buông xuống là tấm cửa khổng lồ, những lượn sóng là then cửa. Hình ảnh mặt trời xuống biển là được nhìn từ trên con thuyền đang ra biển hoặc từ một hòn đảo vào lúc hoàng hôn, nhìn về phía tây, qua một khoảng biển thì vẫn có thể thấy như là mặt trời xuống biển. Với sự quan sát tinh tế nhà thơ đã miêu tả rất thực chuyển đổi thời khắc giữa ngày và đêm. b. Khi thiên nhiên bước vào trạng thái nghỉ ngơi thì con người bắt đầu làm việc: “Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi Câu hát căng buồm với gió khơi” - Đoàn thuyền chứ không phải chỉ con thuyền ra khơi đã tạo ra sự tấp nập trên biển. Chữ “Lại” vừa khẳng định nhịp điệu lao động của người dân chài đã đi vào ổn định, vừa thể hiện sự đối lập giữa sự nghỉ ngơi của đất trời và sự làm việc của con người. – Tác giả đã tạo ra một hình ảnh khỏe, lạ mà thật từ sự gắn kết 3 sự vật
  4. và hiện tượng: Câu hát, cánh buồm và gió khơi. Người đánh cá căng buồm và cất câu hát lên nhà thơ có cảm giác như chính câu hát đó đã làm căng cánh buồm. Câu hát mang theo niềm vui, sự phấn chấn của người lao động trở thành sức mạnh cùng với gió biển làm căng cánh buồm để con thuyền lướt sóng ra khơi. – Nghệ thuật ẩn dụ trong hình ảnh thơ lãng mạn này đã góp phần thể hiện một hiện thực: Đó là niềm vui phơi phới, tinh thần lạc quan của người dân chài. Họ ra khơi trong tâm trạng đầy hứng khởi vì học tìm thấy niềm vui trong lao động, yêu biển và say mê với công việc chinh phục biển khơi làm giàu cho Tổ quốc. Khổ thơ cuối: Cảnh đoàn thuyền trở về trong buổi bình minh lên. a. Cảnh đoàn thuyền trở về - Câu đầu tác giả lặp lại ở khổ thơ 1: “Câu hát căng buồm với gió khơi” + Có từ “với” là khác, có lẽ tác giả tránh sự lặp lại ở câu thơ trước => làm cho khổ thơ cuối giống như điệp khúc của một bài hát, tạo cảm giác tuần hoàn về thời gian, về công việc lao động; nhấn mạnh khí thế tâm trạng của những người dân. Đoàn thuyền ra đi hào hứng sôi nổi, nay trở về cũng với tinh thần ấy rất khẩn trương. Câu hát đưa thuyền đi nay câu hát lại đưa thuyền về. - Bằng biện pháp khoa trương và hình ảnh nhân hóa Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời: cho thấy con người và vũ trụ chạy đua trong cuốc vận hành vô tận, con người đã mang tầm vóc lớn lao của thiên nhiên vũ trụ trong cuộc chạy đua này và con người đã chiến thắng.Có thể nói Huy Cận đã lấy tình yêu của mình đối với cuộc sống mới của nhân dân khám phá ra vẻ đẹp hùng vĩ. Thay vào không gian vũ trụ buồn hiu hắt của thơ ông trước cách mạng tháng Tám. b. Bình minh trên biển – Mở đầu bài thơ là cảnh hoàng hôn, kết thúc bài thơ là cảnh bình minh” Mặt trời đội biển nhô màu mới”. Ánh mặt trời sáng rực, từ từ nhô lên ở phía chân trời xa cảm giác như mặt trời đội biển. Câu thơ với ẩn dụ táo bạo cho thấy sự tuần hoàn của thời gian, của vũ trụ. - Hình ảnh “mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi” gợi nhiều liên tưởng như những mặt trời nhỏ bé đang tỏa rạng niềm vui trước thành quả lao động mà con người đã giành được sau một đêm lao động trên biển. => đó là cảnh tượng đẹp huy hoàng giữa bầu tròi và mặt biển, giữa thiên nhiên và thành quả lao động. III, Kết luận chung - Phát biểu cảm nghĩ, liên hệ. 4.Sáng tạo: Có quan điểm riêng, mới mẻ, phù hợp với chuẩn mực đạo đức, văn hóa, pháp luật. 5. Chính tả, ngữ pháp: Chuẩn chính tả, chuẩn ngữ pháp và ngữ ngữ nghĩa Tiếng Việt 0,25đ 0,25đ