Sáng kiến kinh nghiệm Giải pháp nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ thông tin cho đội ngũ giáo viên tại trường Tiểu học Giang Ly

pdf 36 trang vantien 24/09/2025 2690
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Giải pháp nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ thông tin cho đội ngũ giáo viên tại trường Tiểu học Giang Ly", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfsang_kien_kinh_nghiem_giai_phap_nang_cao_nang_luc_ung_dung_c.pdf

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Giải pháp nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ thông tin cho đội ngũ giáo viên tại trường Tiểu học Giang Ly

  1. I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Sự cần thiết của sáng kiến Xã hội phát triển ngày càng mạnh mẽ, công nghệ thông tin càng đóng vai trò quan trọng đối với mọi quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Đây được xem là nền tảng vững chắc nhằm phục vụ cho tiến trình phát triển đất nước bền vững. Ngày nay, công nghệ thông tin được áp dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực của đời sống không những mang lại những tiện ích cho con người mà còn mang lại hiệu suất làm việc cao. Không nằm ngoài xu thế chung ấy, công nghệ thông tin cũng được đưa vào ứng dụng trong ngành giáo dục nói chung và giáo dục Tiểu học nói riêng. Đã có nhiều ứng dụng do công nghệ thông tin đem lại trong trường học như phần mềm PIMIS, VEMIS, VISA, EQMS, Phổ cập giáo dục và các phần mềm, các công cụ hỗ trợ bài dạy trình chiếu, bài giảng Elearning Công nghệ thông tin phát triển góp phần giúp hoạt động giáo dục đạt hiệu quả cao hơn. Nhiều công nghệ tiên tiến được ứng dụng triệt để nhằm đáp ứng tốt nhất cho công tác giảng dạy của giáo viên. Đồng thời, sự phổ biến kiến thức trên các nền tảng số giúp giáo viên và học sinh dễ dàng tiếp cận thông tin bổ ích, phục vụ tốt cho nhu cầu dạy và học. Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của ứng dụng công nghệ thông tin, trong những năm gần đây, dưới sự chỉ đạo của Phòng Giáo dục và Đào tạo Khánh Vĩnh, các trường đã chú trọng đến việc triển khai và đẩy mạnh thực hiện các phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động quản trị của trường như: quản trị nhân sự; quản trị tài chính; quản trị các hoạt động dạy học, giáo dục học sinh; quản trị cơ sở vật chất;... Tại trường Tiểu học Giang Ly, công nghệ thông tin được áp dụng vào công tác quản lý văn bản, quản lý tài chính, quản lý nhân sự, Trong hoạt động chuyên môn, công nghệ thông tin cũng được triển khai đưa vào ứng dụng tuy nhiên vẫn gặp phải khó khăn, hiệu quả chưa cao: Đa số chỉ dừng lại ở việc giáo viên dạy trình chiếu powerpoint ở một số tiết dạy có người dự giờ, các slide trình chiếu mắc nhiều lỗi kĩ thuật; chưa biết cách sử dụng đa dạng các phần mềm soạn giảng, chưa biết khai thác các nền tảng học liệu số để phục vụ giảng dạy, Làm thế nào giúp giáo viên ứng dụng tốt công nghệ thông tin nhằm nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn nhà trường? Với vai trò là phó hiệu trưởng, là người trực tiếp chỉ đạo, giám sát và hỗ trợ, định hướng cho đội ngũ giáo viên trong quá trình dạy học; người tạo động lực cho đội ngũ giáo viên mạnh dạn ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao hiệu quả công tác. Tôi luôn trăn trở suy nghĩ tìm ra những giải pháp quản lý, chỉ đạo để nâng cao hiệu quả công tác ứng
  2. 2 dụng công nghệ thông tin cho đội ngũ giáo viên, qua đó nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn của nhà trường. Do vậy tôi chọn và nghiên cứu sáng kiến “Giải pháp nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ thông tin cho đội ngũ giáo viên tại trường Tiểu học Giang Ly”. 2. Mục tiêu nghiên cứu - Nghiên cứu thực trạng công tác ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động chuyên môn của đội ngũ giáo viên tại trường Tiểu học Giang Ly: Những thuận lợi, khó khăn và nguyên nhân. - Đề xuất và triển khai thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ thông tin trong đội ngũ giáo viên tại trường Tiểu học Giang Ly. Qua đó góp phần nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn nhà trường. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng công tác ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và các hoạt động chuyên môn khác tại Trường Tiểu học Giang Ly. 1.1. Khái quát về tình hình Trường Tiểu học Giang Ly. Trường Tiểu học Giang Ly đóng trên địa bàn thôn Gia Lố của xã Giang Ly, một xã nằm ở phía tây của huyện miền núi Khánh Vĩnh, cách trung tâm huyện 18 km. Trường được thành lập theo Quyết định số 60/QĐ-UB ngày 06/3/2003 của Ủy ban nhân dân huyện Khánh Vĩnh. Trường có diện tích 4857 m2 gồm 8 phòng học văn hóa, 4 phòng học bộ môn; có đầy đủ hệ thống các phòng làm việc và các phòng khác phục vụ công tác dạy và học như: phòng họp, phòng Hiệu trưởng, phòng Phó hiệu trưởng, phòng Truyền thống Đội, phòng Thư viện, phòng Thiết bị, phòng Y tế,... Các loại thiết bị khác như bảng lớp, bàn ghế giáo viên, bàn ghế học sinh đầy đủ, đúng quy cách. Năm học 2022-2023, trường thực hiện giảng dạy cho học sinh 07 lớp với 174 học sinh đa số là con em đồng bào dân tộc T’Rin. Cụ thể: Khối lớp Tổng số Tổng số Số học Số học sinh Số học sinh lớp học sinh sinh nữ dân tộc nữ dân tộc 1 1 33 11 33 11 2 2 50 25 49 25 3 1 26 14 26 14 4 2 37 21 36 21 5 1 28 9 28 9 Tổng cộng 7 174 80 172 80
  3. 3 Về đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên: Đội ngũ cán bộ, giáo viên nhà trường: 13 người. Trong đó: + Ban giám hiệu: 02 người, đạt chuẩn trình độ đào tạo đại học, đạt 100%. + Giáo viên tiểu học: 7 người (7/7 giáo viên đạt chuẩn trình độ đại học, đạt 100%). + Giáo viên bộ môn: 03 người, (2/3 giáo viên đạt chuẩn trình độ đại học, đạt 66,7%). + Tổng phụ trách Đội: 01 người, trình độ đào tạo đại học. 1.2. Thực trạng công tác ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và các hoạt động chuyên môn khác tại Trường Tiểu học Giang Ly a. Thuận lợi Sở Giáo dục và Đào tạo Khánh Hòa, Phòng Giáo dục và Đào tạo Khánh Vĩnh đã ban hành các văn bản pháp lí, hướng dẫn việc ứng dụng công nghệ thông tin trong trường học, tạo điều kiện cho nhà trường trong triển khai, thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin đổi mới quản lí, dạy học và giáo dục của nhà trường. Ban giám hiệu nhà trường nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của ứng dụng công nghệ thông tin, luôn quan tâm và đã triển khai đẩy mạnh việc thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin: Bước đầu chỉ đạo khai thác, sử dụng một số phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động quản lý hành chính, chỉ đạo thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học,... 100% đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên nhà trường có chứng chỉ tin học cơ bản hoặc tương đương. Đa số đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trẻ, năng động, có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lí, dạy học và giáo dục. Cơ sở hạ tầng kĩ thuật công nghệ thông tin và truyền thông nhà trường được đầu tư, hiện nhà trường có 08 máy tính/laptop phục vụ quản lý, điều hành; 15 máy tính phục vụ việc học tập của học sinh; các máy tính được kết nối Internet cáp quang. 100% phòng học được kết nối Internet hỗ trợ dạy học. Có mạng wifi cung cấp Internet cho giáo viên, học sinh trong khuôn viên nhà trường. Đường truyền kết nối Internet tốc độ cao, ổn định. Một bộ phận phụ huynh là người dân tộc thiểu số nhưng bước đầu đã quan tâm đối với hoạt động của nhà trường, biết sử dụng một số ứng dụng công nghệ thông tin cơ bản giúp cho việc trao đổi, phối hợp giữa nhà trường và phụ huynh được nhanh chóng, kịp thời .
  4. 4 b. Khó khăn Trường chưa trang bị đồng bộ, đầy đủ hệ thống máy tính, máy chiếu tại phòng học, phòng bộ môn để phục vụ cho dạy học theo chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hiện nay. Vốn kinh nghiệm về ứng dụng công nghệ thông tin ít, trình độ ngoại ngữ của giáo viên yếu. Một số phụ huynh là người dân tộc thiểu số chưa có thiết bị thông tin hiện đại như smatphone vì vậy một số phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác trao đổi, phối hợp khó triển khai thực hiện. c. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và các hoạt động chuyên môn của đội ngũ giáo viên Trường Tiểu học Giang Ly. Được sự quan tâm chỉ đạo của bộ phận chuyên môn Phòng Giáo dục và Đào tạo Khánh Vĩnh, trong những năm gần đây Trường Tiểu học Giang Ly luôn coi trọng và đã triển khai cho các bộ phận trong nhà trường thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác, đặc biệt là vận động giáo viên thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, trong nghiên cứu tài liệu học tập, soạn giảng, thực hiện hồ sơ chuyên môn. Trong năm học 2022-2023, nhà trường đã phân công cho 01 giáo viên phụ trách IT hỗ trợ giúp đỡ đồng nghiệp trong ứng dụng công nghệ thông tin. Phó hiệu trưởng được phân công thường xuyên theo dõi, đôn đốc, tư vấn cho giáo viên về thiết kế dạy học trình chiếu powerpoint thông qua dự giờ thăm lớp. Nhà trường đã triển khai và ứng dụng phần mềm Cơ sở dữ liệu ngành (csdl.moet.gov.vn) trong quản lý đội ngũ và học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và đào tạo. 100% giáo viên nhà trường được Sở Giáo dục và Đào tạo Khánh Hòa cấp địa chỉ Email công vụ cá nhân (có tên miền @khanhhoa.edu.vn). Giáo viên thực hiện khá tốt việc trao đổi thông tin hai chiều giữa nhà trường và giáo viên qua email. 100% giáo viên nhà trường có máy tính laptop, có điện thoại thông minh kết nối mạng, thực hiện soạn giáo án bằng vi tính. Một số giáo viên có kỹ năng cơ bản về soạn thảo văn bản, biết Download tài liệu, hỏi kinh nghiệm qua các website tin cậy. Để nắm bắt số liệu mức độ hiểu biết và ứng dụng công nghệ thông tin của giáo viên qua một số mặt, tôi đã tiến hành điều tra. Kết quả thu được như sau:
  5. 5 Bảng số liệu về trình độ hiểu biết và mức độ ứng dụng công nghệ thông tin của giáo viên (Thời điểm tháng 10/2022) Số Biết giáo truy viên Biết Biết tự Biết cập Tổng có Có Có kết nối soạn thảo Biết thiết kế soạn bài các số chứng máy mạng văn bản down bài giảng E- phần giáo chỉ vi thành thạo, load giảng Learning mềm viên tin tính trình bày tài liệu trình học học A khoa học chiếu liệu số trở Cố 3G lên định 11 11 11 7 4 5 7 3 0 3 Tỉ lệ 100,0 100,0 63,6 36,4 45,5 63,6 27,3 0,0 27,3 (%) Qua trao đổi với giáo viên và kết quả điều tra cho thấy: Đa số giáo viên biết download tài liệu. 100% giáo viên thực hiện soạn giáo án vi tính tuy nhiên kĩ năng soạn thảo văn bản nhanh, thành thạo, trình bày khoa học còn ít (chỉ chiếm 45,5%). Số giáo viên biết tự thiết kế bài giảng trình chiếu, biết truy cập các phần mềm học liệu số còn thấp: 03 giáo viên, chiếm 27,3%. Đa số còn lại chưa tự thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử của mình mà copy của người khác. Đặc biệt chưa có giáo viên biết soạn bài giảng E-Learning. Bên cạnh thực hiện phiếu điều tra, tôi đã tiến hành dự giờ giáo viên để tìm hiểu thực tế việc thiết kế, soạn giảng bài giảng trình chiếu của giáo viên. Kết quả như sau: Bảng thống kê số lượt và hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học của giáo viên trong đợt dự giờ phân loại giáo viên đầu năm học (Tháng 10/2022). Số tiết giáo Số tiết giáo Số tiết giáo Số tiết dạy ứng viên sử dụng viên sử dụng viên không Tổng Số dụng công nghệ thành thạo ứng còn mắc lỗi kĩ ứng dụng công số giáo tiết thông tin dụng công nghệ thuật nghệ thông tin viên dự dự thông tin SL TL (%) SL TL (%) SL TL (%) SL TL (%) 11 11 6 54,5 1 16,7 5 83,3 5 45,5
  6. 6 Qua thực tế dự giờ tiết dạy giáo viên, nhận thấy đa số giáo viên nhà trường có ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học: Có sử dụng thiết bị dạy học công nghệ hiện đại: ti vi kết nối internet, máy chiếu vật thể,... nhưng tần suất sử dụng chưa cao. Giáo viên có thực hiện thiết kế và giảng dạy trình chiếu powerpoint tuy nhiên mức độ chưa thường xuyên (chỉ thực hiện ở một số tiết dạy có người dự giờ). Năng lực ứng dụng, sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học của một bộ phận giáo viên còn nhiều hạn chế như: + Một số GV chưa chủ động trong việc soạn bài giảng điện tử (tải trên mạng về nhưng không chỉnh sửa) nên ứng dụng vào dạy học còn lúng túng thiếu nhịp nhàng giữa máy với người dạy, giữa các hoạt động của thầy và trò; ứng dụng tổ chức các hình thức học tập thiếu phù hợp. Điều đó làm cho công nghệ thông tin, dù đã được đưa vào quá trình dạy học nhưng vẫn chưa phát huy được tính trọn vẹn tích cực và hiệu quả của nó. + Khi chuẩn bị bài giảng điện tử, việc chọn màu nền Font chữ, hình ảnh, cài đặt hiệu ứng trong các Slide thiếu phù hợp và rườm rà gây cho học sinh mất tập trung vào nội dung bài học. + Một số giáo viên lạm dụng công nghệ thông tin thay cho viết bảng, sử dụng quá nhiều kênh hình, kênh chữ. + Chưa biết cách sử dụng đa dạng các phần mềm soạn giảng, đầu tư thiết kế các hoạt động tương tác (các trò chơi, hoạt động kéo thả, ...) nên hiệu quả chưa cao. Việc không sử dụng hoặc sử dụng chưa hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là một trong số các nguyên nhân làm cho tiết dạy không đạt kết quả cao đồng thời phản ánh trình độ tay nghề của giáo viên còn hạn chế. Bảng tổng hợp kết quả dự giờ đánh giá chất lượng giáo viên đầu năm học 2022-2023. (Thời điểm đánh giá: Tháng 10/2022) Kết quả Tổng số Thời điểm đánh giá giáo Tốt Khá Trung bình Chưa đạt viên SL TL SL TL SL TL SL TL (%) (%) (%) (%) Phân loại GV đầu 11 1 9,1 8 72,7 2 18,2 0 0,0 năm (tháng 10/2022)
  7. 7 d. Nguyên nhân Qua trò chuyện với giáo viên, đặc biệt qua thực tế dự giờ thăm lớp đầu năm học đã phần nào xác định được nguyên nhân của việc giáo viên chưa ứng dụng công nghệ thông tin hiệu quả trong công tác giảng dạy nói riêng và hoạt động chuyên môn nói chung. Cụ thể với những lí do như sau: * Về phía nhà trường Cán bộ quản lí đôi lúc còn lỏng lẻo trong việc kiểm tra, đánh giá cách sử dụng, khai thác ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và trong các hoạt động chuyên môn của giáo viên. * Về phía giáo viên - Một số giáo viên chưa nhận thức được vai trò, hiệu quả của ứng dụng công nghệ thông tin đối với quá trình dạy học và công tác nên chưa có ý thức tự học, tự rèn. - Trình độ ứng dụng công nghệ thông tin của đội ngũ giáo viên không đều; một số giáo viên kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin hạn chế, kinh nghiệm sử dụng chưa nhiều nên dẫn đến bỡ ngỡ, tâm lý ngại sử dụng. - Một số giáo viên còn ngại làm thực hành, dạy học còn nặng về lý thuyết; ngại sử dụng giáo án điện tử vì cho rằng mất thời gian và đầu tư quá nhiều công sức. 2. Giải pháp thực hiện 2.1. Nâng cao nhận thức cho đội ngũ giáo viên về lợi ích và hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học nói riêng và công tác chuyên môn nói chung. Xác định nhận thức là khâu đầu tiên, có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại của quá trình ứng dụng công nghệ thông tin trong nhà trường. Do đó, việc nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm cho cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường là việc làm vô cùng cần thiết. Bởi thay đổi nhận thức sẽ thúc đẩy hành động. Chỉ khi đội ngũ giáo viên, nhân viên thấy được lợi ích, hiệu quả mà công nghệ thông tin mang lại, họ sẽ tự giác trau dồi, tự học, tự rèn luyện để nâng cao năng lực bản thân. Việc thay đổi nhận thức cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên không thể thực hiện trong ngày một ngày hai mà phải trải qua một quá trình tác động lâu dài dưới nhiều hình thức khác nhau. Là Phó hiệu trưởng quản lý chuyên môn tôi đã thực hiện các giải pháp nâng cao nhận thức của đội ngũ giáo viên như sau:
  8. 8 - Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền cho cán bộ, giáo viên trong nhà trường nắm vững quan điểm, đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước; thấy được sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin trên thế giới và trong nước; chỉ ra những tác động tích cực mà ứng dụng công nghệ thông tin có thể mang lại. Từ đó giúp đội ngũ cán bộ, giáo viên nhà trường sẵn sàng hơn với việc đổi mới tư duy, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin sao cho phù hợp. - Tuyên truyền, phổ biến, quán triệt sâu rộng đến toàn thể đội ngũ nhà giáo, cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh, cha mẹ học sinh nhà trường về các văn bản của các cấp hướng dẫn ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo thông qua các buổi họp chuyên môn, chuyên đề, gửi email, niêm yết ở bảng tin,... - Đối với các giáo viên hạn chế về công nghệ thông tin, bản thân thường xuyên chuyện trò, phân tích để giáo viên nhận ra: Nếu chưa biết khai thác tiện ích mà công nghệ thông tin hỗ trợ, đồng nghĩa với việc chậm đổi mới phương pháp dạy học, mà chậm đổi mới phương pháp thì việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện rất hạn chế. Hơn nữa, nếu giáo viên không tiếp cận tin học, không biết tham khảo tài liệu qua mạng Internet thì việc cập nhật kiến thức thực tế vào bài giảng sẽ không đạt, việc đầu tư tiết dạy nghèo nàn, học sinh sẽ ít hứng thú học tập, tiết dạy sẽ nặng nề Ngoài ra, nếu giáo viên không biết ứng dụng công nghệ thông tin vào công việc sẽ tác động xấu cho hoạt động chung của trường như các báo cáo thiếu chính xác, không kịp thời, Đặc biệt, trong tình hình hiện nay, khi dịch bệnh Covid 19 chưa được kiểm soát có thể bùng phát lại bất cứ thời điểm nào thì việc dạy học trực tuyến luôn là lựa chọn hàng đầu để thực hiện phương châm “Ngừng đến trường nhưng không dừng học”. Muốn tổ chức dạy học trực tuyến, đòi hỏi giáo viên phải ứng dụng thành thạo công nghệ thông tin. - Vào đầu năm học, trong các buổi sinh hoạt chuyên môn cấp trường, tôi tuyên truyền để giáo viên thấy được việc nâng cao trình độ tin học là trách nhiệm. Với đa số giáo viên nhà trường có chứng chỉ công nghệ thông tin, tôi yêu cầu giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin phải đảm bảo lý thuyết gắn với thực hành, tránh tình trạng giáo viên có chứng chỉ nhưng hiệu quả thực hành thấp, chậm đổi mới phương pháp dạy học. - Để giáo viên có động lực phấn đấu, ngay từ đầu năm học, trong Hội nghị chuyên môn nhà trường, tôi đã đưa ra thảo luận và cho các giáo viên đăng kí số tiết dạy ứng dụng công nghệ thông tin trong năm học (Đây là số tiết tối thiểu, giáo viên phải thực hiện). Xây dựng kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin theo kỳ,
  9. 9 năm; đưa các nội dung ứng dụng công nghệ thông tin vào kế hoạch năm học như là nhiệm vụ trọng tâm bắt buộc; phần ứng dụng công nghệ thông tin của giáo viên được đưa vào chỉ tiêu thi đua của mỗi cá nhân. 2.2. Tổ chức bồi dưỡng, nâng cao năng lực thực hành ứng dụng công nghệ thông tin cho đội ngũ giáo viên nhà trường Công nghệ thông tin được coi như một “trợ thủ đắc lực” trong hoạt động chuyên môn nói chung và dạy học nói riêng. Bởi công nghệ thông tin đáp ứng được tất cả nhu cầu học tập và làm việc của cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh. Với thực trạng giáo viên nhà trường tất cả đều có chứng chỉ tin học cơ bản hoặc tương đương nhưng năng lực ứng dụng không đồng đều, đa số còn hạn chế. Để nâng cao năng lực thực hành ứng dụng công nghệ thông tin cho đội ngũ giáo viên, bên cạnh tổ chức bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, tôi quan tâm bồi dưỡng cho giáo viên nhà trường về ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác. Để công tác bồi dưỡng có trọng tâm, mang lại hiệu quả. Đầu năm học, tôi tiến hành rà soát, nắm bắt mức độ ứng dụng của giáo viên nhà trường thông qua nhiều hình thức: qua công tác dự giờ nắm bắt mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học; qua các hồ sơ, báo cáo, đề kiểm tra,... của giáo viên để nắm bắt kĩ năng soạn thảo, trình bày văn bản, các lỗi cơ bản mà giáo viên mắc phải như lỗi về cách trình bày, fon chữ; thông qua nhập liệu trên các trang tính để nắm các lỗi khi nhập trực tuyến các báo cáo thống kê về chuyên môn ; nắm bắt qua trao đổi với tổ trưởng chuyên môn,.. Sau khi nắm bắt thực trạng, tôi xây dựng kế hoạch, tiến hành bồi dưỡng ứng dụng công nghệ thông tin cho giáo viên trong nhà trường. Bản thân luôn chú trọng đa dạng hóa cả về nội dung và hình thức bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên gắn liền với nhu cầu thực tiễn về triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong nhà trường đã được định hướng cụ thể đảm bảo đạt chuẩn các kỹ năng cần có. 2.2.1. Về nội dung bồi dưỡng - Bồi dưỡng kĩ năng soạn thảo, trình bày văn bản: phục vụ cho soạn giáo án, ra đề kiểm tra, thực hiện các kế hoạch, báo cáo chuyên môn,.. một cách khoa học. - Bồi dưỡng kĩ năng khai thác mạng internet để truy cập và khai thác nền tảng học liệu số, văn bản phục vụ trong quá trình công tác. - Bồi dưỡng kĩ năng thiết kế bài giảng với Powerpoint.
  10. 10 - Bồi dưỡng một số kĩ năng thao tác khác: Cách sử dụng một số hàm thông dụng trong excel, cách chuyển đổi file pdf sang file word và ngược lại, thao tác xoay ngang (dọc) một trang giấy bất kì trong word, - Bồi dưỡng sử dụng các phương tiện, thiết bị dạy học hiện đại: Ti vi kết nối internet, máy chiếu vật thể, - Bồi dưỡng dạy học trực tuyến, dạy học qua truyền hình; hội họp qua nền tảng google meet, zoom. 2.2.2. Về hình thức bồi dưỡng Trong quá trình chỉ đạo công tác chuyên môn của nhà trường, để bồi dưỡng năng lực ứng dụng công nghệ thông tin cho giáo viên bản thân đã sử dụng đa dạng nhiều hình thức bồi dưỡng như sau: * Tổ chức tập huấn bồi dưỡng ứng dụng công nghệ thông tin cho giáo viên - Tập huấn truy cập khai thác phần mềm học liệu số trên mạng internet phục vụ tự học và tìm kiếm tư liệu giảng dạy Nhận thấy mạng internet là một kho kiến thức khổng lồ có thể khai thác cho việc dạy học. Trước thực trạng một số giáo viên nhà trường chưa biết cách download tài liệu, chưa biết tìm kiếm nguồn tư liệu chính thống phục vụ soạn giảng, tôi phối hợp với giáo viên IT của trường tổ chức tập huấn cho giáo viên một số nội dung khai thác mạng internet và cung cấp một số địa chỉ chính thống; hướng dẫn cách truy cập và khai thác phần mềm học liệu số để tìm tư liệu phục vụ giảng dạy như: Hành trang số ( Thư viện trực tuyến ( Tạp chí điện tử giáo dục Việt Nam ( với hơn 2.130 bài giảng điện tử được Bộ Giáo dục và Đào tạo lựa chọn đưa lên kho học liệu số dùng chung của toàn ngành; Thư viện chia chia sẻ tài liệu ( trang Văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Giáo dục và Đào tạo ( Với hình thức vừa hướng dẫn, vừa yêu cầu giáo viên thực hành ngay trên máy tính của mình đã giúp giáo viên biết lựa chọn các trang web đáng tin cậy để download tư liệu có nguồn thông tin mang tính chính xác cao về phục vụ soạn giảng. - Tập huấn kĩ năng thiết kế bài giảng với Powerpoint: Chọn giáo viên thành thạo về thiết kế bài giảng với Powerpoint hướng dẫn cách tạo bài giảng với các slide, cách chọn màu nền, nhập văn bản, chọn hiệu ứng; chèn hình ảnh, phim, âm thanh vào bài giảng, cách liên kết các slide,
  11. 11 Để có bài giảng trình chiếu Powerpoint tốt, giáo viên phải nắm được quy trình các bước thiết kế. Tôi hướng dẫn cho giáo viên các bước xây dựng bài giảng điện tử với PowerPoint như sau: + Bước 1: Xác định mục tiêu của bài giảng. + Bước 2: Xác định kiến thức nào là cơ bản, kiến thức nào là trọng tâm. + Bước 3: Lựa chọn tư liệu bổ sung (tranh ảnh, video) từ các kho học liệu trên internet. + Bước 4: Thiết kế kịch bản bài giảng. + Bước 5: Soạn slide bài giảng: nhập nội dung, đưa tư liệu, định dạng văn bản, tạo hiệu ứng. + Bước 6: Chạy thử, chỉnh sửa thông tin và hiệu ứng (nếu cần) và hoàn thiện bài giảng. + Bước 7: Đóng gói bài giảng. + Bước 8: Viết lời giải thích, cách điều khiển, trình tự điều khiển của slide bài giảng. Giáo viên và học sinh cần chuẩn bị gì trước tiết học. + Bước 9: Rút kinh nghiệm sau buổi học. Để bài giảng trình chiếu đạt hiệu quả cao, tôi lưu ý giáo viên, khi ứng dụng công nghệ thông tin vào bài giảng cần chú ý: Giáo viên không nên lạm dụng công nghệ thông tin quá mức; cân nhắc lựa chọn bài giảng phù hợp, nhằm phát huy hiệu quả tối đa và đảm bảo mục tiêu bài giảng; không sử dụng quá nhiều hiệu ứng trình chiếu phức tạp trong cùng một slide, vì có thể gây mất tập trung cho học sinh; giáo viên nên chọn hình nền đơn giản, sáng để thể hiện nội dung bài giảng rõ ràng hơn; không nên nhồi nhét quá nhiều chữ vào một slide bài giảng, câu chữ ngắn gọn và tường minh; tránh tình trạng sử dụng quá nhiều video tư liệu vào bài giảng; nên kết hợp cả hai phương thức: trình chiếu và ghi bảng, để giúp học sinh theo kịp bài học. - Tập huấn sử dụng thiết bị dạy học công nghệ mới Trong giai đoạn hiện nay, khi công nghệ đang phát triển như vũ bão, để phục vụ đổi mới dạy học theo chương trình giáo dục phổ thông mới, nhiều thiết bị công nghệ mới, hiện đại được cấp phát như máy chiếu, ti vi kết nối Internet, máy chiếu vật thể,.. Với các thiết bị dạy học hiện đại trên, giáo viên chưa tiếp cận nên còn khá xa lạ.
  12. 12 Để giúp giáo viên tiếp cận nhanh với các thiết bị mới, tôi lựa chọn một số giáo viên có hiểu biết về công nghệ tiếp cận trước. Cụ thể, khi các nhà cung cấp bàn giao thiết bị và hướng dẫn kĩ thuật, cách sử dụng, tôi phân công các giáo viên này cùng tham gia nghe hướng dẫn. Phân công các giáo viên trên tìm hiểu thêm về chức năng, cách sử dụng và đưa vào giảng dạy thử nghiệm trước các thiết bị mới. Sau khi tìm hiểu kĩ, tôi mở buổi tập huấn, hướng dẫn cho giáo viên toàn trường cách sử dụng. Yêu cầu các giáo viên thực hiện mượn và sử dụng trong giảng dạy để học sinh được tiếp cận các tiện ích mà công nghệ mang lại. - Ngoài ra, tổ chức tập huấn cho giáo viên về các thao tác cơ bản trên máy tính để phục vụ soạn giảng, ra đề kiểm tra, tổng hợp số liệu báo cáo trực tuyến, Do điều kiện nhà trường còn khó khăn, một số ứng dụng chưa được sử dụng rộng rãi trong quản lí hoạt động giảng dạy, giáo dục như: học tập trực tuyến; giảng e-learning, kí duyệt giáo án điện tử, sổ liên lạc điện tử, .Tuy nhiên, bản thân đã được tham gia các lớp tập huấn do Phòng Giáo dục tổ chức, tôi đã thực hiện tập huấn lại cấp trường cho tất cả các giáo viên nhằm giúp giáo viên tiếp cận, làm quen, tạo tiền đề để tổ chức thực hiện trong năm học 2023-2024 và những năm tiếp theo. * Tổ chức chuyên đề thực hành “ Dạy học trình chiếu PowerPoint” Nếu chỉ dừng lại ở việc tập huấn hướng dẫn giáo viên cách thiết kế, giáo viên sẽ gặp lúng túng ở khâu quan trọng là triển khai giảng dạy trên lớp. Để giúp giáo viên xử lý được các vấn đề khi dạy trình chiếu, tôi xây dựng kế hoạch mở chuyên đề thực hành “Dạy học trình chiếu PowerPoint” Quy trình xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chuyên đề bao gồm: Xây dựng kế hoạch, viết báo cáo chuyên đề, chọn giáo viên có tay nghề, giỏi trong việc ứng dụng công nghệ thông tin dạy minh hoạ cho cả trường tham dự. Sau đó tiến hành thảo luận và rút kinh nghiệm, thống nhất chuyên đề. Ban giám hiệu trực tiếp dự giờ, chỉ đạo thống nhất các nội dung, phương pháp, quy trình dạy. Sau chuyên đề, xây dựng kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy ở tất cả các khối lớp trong nhà trường. Cuối năm học, Ban giám hiệu, tổ trưởng chuyên môn sẽ dự giờ giáo viên để đánh giá kết quả việc tiếp thu chuyên đề của giáo viên. * Bồi dưỡng qua dự giờ thăm lớp để tư vấn, hỗ trợ Dự giờ, tư vấn là một trong những biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục. Khi được dự giờ, giáo viên giảng dạy sẽ đầu tư chuẩn bị bài kỹ hơn, có nhiều sáng tạo hơn, áp dụng những “tinh hoa” vào trong thiết kế soạn
  13. 13 giảng. Thông qua các tiết dự giờ, Ban giám hiệu nhà trường sẽ dễ dàng đánh giá đúng trình độ tay nghề của giáo viên để có hướng bồi dưỡng. Bản thân giáo viên cũng tự nhìn nhận đúng năng lực của mình, từ đó có ý thức bồi dưỡng chuyên môn hơn. Sau quá trình tập huấn, mở chuyên đề đã giúp giáo viên phần nào tự tin vào khả năng ứng dụng công nghệ thông tin của mình trong soạn giảng trình chiếu PowerPoint. Tôi yêu cầu giáo viên đăng kí tiết dạy trình chiếu để dự giờ, bồi dưỡng thêm. Sau mỗi giờ dạy của giáo viên, tổ chức rút kinh nghiệm chỉ ra những ưu điểm, tồn tại của từng giờ dạy để giáo viên phát huy những ưu điểm khắc phục những tồn tại trong giảng dạy. Bên cạnh góp ý về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, tôi quan tâm góp ý cho giáo viên rút kinh nghiệm về tồn tại trong việc ứng dụng dạy học trình chiếu powerpoint như: cách sử dụng màu nền, fon chữ, cỡ chữ, cách tạo hiệu ứng, số slide cho bài giảng; với nguyên tắc đơn giản, rõ ràng, không đưa nhiều ý tưởng trong một slide, không chọn hiệu ứng hoạt hình theo kiểu bay nhảy, màu nền không được lấn át màu chữ Được thực hành nhiều, được góp ý nhiều nên giáo viên càng ngày càng có kỹ năng thiết kế bài giảng, tự tin thiết kế bài giảng của cá nhân, hạn chế sao chép y nguyên trên mạng. Đến thời điểm cuối năm, tất cả các tiết bản thân dự giờ, giáo viên đều dạy trình chiếu. Điều đáng vui mừng là trong các tiết dạy, những lỗi kĩ thuật đã được khắc phục, giáo viên giảng dạy linh hoạt hơn, giờ học sinh động tạo được hứng thú cho học sinh. Điều này chứng tỏ giáo viên đã có kỹ năng hơn trong việc ứng dụng công nghệ thông tin đối với việc dạy học. 2.3. Động viên, khuyến khích, phát huy tinh thần tương trợ giúp đỡ lẫn nhau của giáo viên Việc ứng dụng công nghệ thông tin muốn đạt hiệu quả phải xây dựng đội ngũ nòng cốt có tinh thần trách nhiệm cao, có năng lực về công nghệ thông tin để cùng giúp đỡ nhau. Đây là một trong những việc làm cần thiết. Vì thế, tôi động viên, kêu gọi sự giúp đỡ của giáo viên dạy môn tin học và các tổ trưởng chuyên môn (các tổ trưởng của trường là những giáo viên có năng lực về tin học) thành lập nhóm cốt cán. Nhóm có nhiệm vụ chia sẻ kinh nghiệm, hướng dẫn thêm cho giáo viên trong trường về mặt công nghệ thông tin. Đồng thời hỗ trợ, cùng với chuyên môn nhà trường tham gia các đợt tập huấn phần mềm do các cấp tổ chức và triển khai lại cấp trường. Thực hiện phương châm “học đi đôi với hành”, tôi động viên, khuyến khích giáo viên không ngừng tự học, tự thực hành. Thời gian tự học có thể là lúc giải
  14. 14 lao hoặc tiết trống. Giáo viên tự truy cập và trao đổi, học hỏi lẫn nhau. Bằng hình thức người biết nhiều dạy cho người biết ít, người biết ít dạy cho người chưa biết. Giáo viên nhiều tuổi học cách ứng dụng công nghệ thông tin ở đồng nghiệp trẻ của mình. Chú trọng việc thực hành thao tác từ dễ đến khó. Phát huy vai trò của nhóm cốt cán cùng giúp giáo viên mọi lúc mọi nơi: Tranh thủ giờ ra chơi, trong lúc trống tiết dạy, trao đổi qua điện thoại. Miệng hỏi, tay làm, nếu trình tự rắc rối người học phải ghi chép các bước vào sổ sau đó mới dùng phím, chuột để thực hành Để tạo sự lan tỏa, bản thân không ngừng tự học, tự rèn để nêu gương trước đội ngũ giáo viên. Trong lúc soạn thảo văn bản, có những thao tác khó, tôi tự tìm hiểu trên Internet (thực hiện xem đi xem lại nhiều lần, kết hợp vừa nghe, nhìn, vừa thực hành). Khi đã thành thạo, tôi sẽ cùng nhóm cốt cán hướng dẫn lại cho giáo viên những gì bản thân biết. Đồng thời, tổ chức cho giáo viên bồi dưỡng nhau theo cặp: Một giáo viên rành về công nghệ thông tin bồi dưỡng cho một giáo viên hạn chế về công nghệ thông tin. Sau khi giáo viên hạn chế công nghệ đã có kĩ năng sẽ tiếp tục hướng dẫn cho giáo viên khác cứ như vậy nhân lên trong tổ chuyên môn. Trong các buổi sinh hoạt chuyên môn cấp trường tôi dành một khoảng thời gian ngắn để cùng thầy cô trao đổi về những tiến bộ mà các thầy cô tự rèn hoặc được đồng nghiệp hỗ trợ. Ứng dụng công nghệ thông tin là một việc làm không dễ dàng bởi không phải giáo viên nào cũng có khả năng tin học, lòng say mê và sự kiên nhẫn. Tuy nhiên, với sự động viên của Ban giám hiệu, sự cố gắng của bản thân các giáo viên, đến thời điểm hiện nay 100% giáo viên nhà trường đã có thể thiết kế và giảng dạy trình chiếu powerpoint. Giáo viên biết cách sử dụng máy chiếu vật thể thay cho việc photo tranh ảnh hay làm phiếu bài tập lớn sửa bài trước lớp mất nhiều thời gian và tốn kém. 2.4. Chỉ đạo tăng cường việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động chuyên môn nhà trường * Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, đánh giá chất lượng giáo dục trên nền tảng cơ sở dữ liệu ngành (csdl.moet.gov.vn) Trước đây, nhà trường thường quản lí kết quả đánh giá chất lượng giáo dục theo kiểu thủ công, dựa trên sổ Tổng hợp kết quả đánh giá giáo dục, và có sự hỗ trợ thêm của phần mềm excel dẫn đến việc nhập điểm, tổng hợp mất khá nhiều thời gian. Trước quy mô ngày càng tăng của học sinh, việc lưu trữ kết quả học tập của học sinh càng thêm phức tạp, việc nhầm lẫn thường diễn ra, khó khăn trong
  15. 15 việc theo dõi, tìm kiếm, trích xuất kết quả học tập phục vụ đánh giá, báo cáo. Một số giáo viên hạn chế về công nghệ thông tin, chưa chủ động và thực sự thành thạo thao tác nhập dẫn đến thời gian của khâu nhập, rà soát, kiểm tra – đối chiếu quá lâu, mất thời gian làm cho hiệu quả quản trị chưa như mong đợi. Với sự phát triển của công nghệ thông tin, việc đánh giá chất lượng giáo dục hiện nay được thực hiện trên nền tảng cơ sở dữ liệu ngành tại địa chỉ truy cập csdl.moet.gov.vn. Sau khi giáo viên được bồi dưỡng kỹ năng đáp ứng yêu cầu thao tác hiệu quả, tôi chỉ đạo, thực hiện phân quyền, yêu cầu giáo viên nhập kết quả đánh giá học sinh lên hệ thống phần mềm trong một khoảng thời gian cho phép. Sau đó hệ thống sẽ khóa cấu hình nội dung đánh giá để không cho phép giáo viên có thể nhập, chỉnh sửa khi chưa cho phép. Việc nhập, lưu trữ kết quả đánh giá học sinh được tiến hành dễ dàng, hạn chế tối đa việc thất lạc, nhầm điểm, kết quả học tập của học sinh. Đặc biệt, hệ thống có thể xuất dữ liệu báo cáo thành các dạng file theo lệnh với định dạng excel, dễ dàng cho việc đánh giá, báo cáo theo từng học kì, năm học. Mỗi năm bốn kì, giáo viên thực hiện đánh giá học sinh lên hệ thống phần mềm nêu trên. * Tăng cường chỉ đạo ứng dụng công nghệ thông tin để đổi mới nội dung, phương pháp dạy, học - Chỉ đạo các tổ trưởng chuyên môn, đưa nội dung dạy học ứng dụng công nghệ thông tin vào các buổi sinh hoạt chuyên đề, dạy minh họa tiết nghiên cứu bài học. Phân công cho những giáo viên có kinh nghiệm dạy trình chiếu, sau đó tiến hành dự giờ, trao đổi kinh nghiệm để mỗi giáo viên dự giờ nhận ra: Nếu ứng dụng công nghệ thông tin tiết dạy sẽ có hiệu quả hơn cách dạy dùng phấn trắng- bảng đen; học sinh hứng thú, giờ học sôi nổi, Bằng biện pháp này những giáo viên dù chưa biết ứng dụng công nghệ thông tin thành thạo vẫn nhận biết được hiệu quả của tiết dạy mang lại, nên đặt cho mình một nhiệm vụ để tự học, tự rèn và thực hiện giảng dạy trình chiếu thường xuyên hơn. - Xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện dạy học ứng dụng công nghệ thông tin nhằm đổi mới nội dung, phương pháp dạy học trong nhà trường. Mỗi giáo viên đều thực hiện đăng kí số tiết dạy ứng dụng công nghệ thông tin trong năm học (theo kỳ, năm) và được đưa vào chỉ tiêu thi đua của mỗi cá nhân. Ban giám hiệu nhà trường, các tổ trưởng chuyên môn thường xuyên dự giờ để đánh giá, hỗ trợ thêm cho giáo viên trong quá trình thực hiện. * Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức hoạt động hành chính - Sử dụng hệ thống thư điện tử công vụ: Mỗi giáo viên trong nhà trường đều được Sở Giáo dục và Đào tạo cấp hộp thư điện tử cá nhân (có tên miền
  16. 16 @khanhhoa.edu.vn). Tất cả các văn bản của các cấp triển khai được gửi đến các địa chỉ thư điện tử này để giáo viên nghiên cứu, thực hiện. Các văn bản sẽ được lưu trữ ngay trên hộp thư điện tử cá nhân, không cần in ra để triển khai như trước (hạn chế tốn kém và thất lạc). Khi cần tìm kiếm văn bản, giáo viên chỉ cần gõ từ khóa tên văn bản trong ô “Tìm kiếm trong thư”, nhấn enter sẽ dễ dàng tìm ra văn bản lưu trữ. Hộp thư công vụ còn dùng để giáo viên chia sẻ thông tin công việc cho nhau, để giáo viên gửi văn bản, báo cáo,.. đến tổ chuyên môn, nhà trường , . Tôi yêu cầu các thành viên nhà trường thường xuyên truy cập vào hộp thư cá nhân để nắm bắt thông tin, thực hiện các kế hoạch, thông tin 2 chiều kịp thời. - Hệ thống hội nghị trực tuyến: Tổ chức cho giáo viên làm quen với ứng dụng phương thức họp trực tuyến để tổ chức họp, hội nghị, hội thảo qua mạng: Cách tạo cuộc họp, tham gia họp, chia sẻ ý kiến cá nhân trong buổi họp,.. Khuyến khích các tổ chuyên môn tăng cường ứng dụng phương thức họp trực tuyến để tổ chức họp, hội thảo và tổ chức sinh hoạt chuyên môn nói chung và sinh hoạt chuyên môn thực hiện Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 nói riêng - Thiết lập nhóm zalo để trao đổi thông tin: Hiện nay, mạng internet bao phủ rộng khắp, cha mẹ học sinh nhà trường có sử dụng điện thoại smatphone. Để tiện trong trao đổi thông tin giữa giáo viên và phụ huynh, tôi định hướng giáo viên chủ nhiệm các lớp sử dụng ứng dụng zalo (nhắn tin, gọi điện miễn phí trên nền tảng máy tính, di động) để thiết lập nhóm zalo của lớp. Mỗi lớp có một nhóm zalo chung. Tại nhóm zalo này, phụ huynh được thông báo về các quy định, thời khóa biểu, những thay đổi trong lịch học, các hoạt động ở lớp, ở trường của con em thậm chí còn bằng hình ảnh, clip sinh động. đều được giáo viên thông tin kịp thời. Giáo viên cũng được nhận các thông tin phản hồi kịp thời từ phụ huynh cả lớp mà không cần đến từng nhà trao đổi mất nhiều thời gian như trước. Nhà trường cũng thành lập nhóm zalo của Hội đồng sư phạm nhà trường. Thành viên nhóm bao gồm tất cả cán bộ, giáo viên, nhân viên, người lao động toàn trường. Nhà trường đề ra quy tắc hoạt động cụ thể của nhóm zalo (chỉ trao đổi công việc, không trao đổi việc riêng, không gửi tin nhắn sau 23 giờ, ). Nhiều thông tin nhanh đã được cập nhật giúp thông tin hai chiều luôn được kịp thời, chính xác. - Ứng dụng trong đổi mới sinh hoạt chuyên môn cấp tổ, cấp trường: Để buổi sinh hoạt chuyên môn đi vào chiều sâu, tránh việc chỉ ghi chép mà không có ý kiến trao đổi thảo luận chuyên sâu về chuyên môn. Trước khi tổ chức họp, chuyên đề, hội nghị, dự thảo, nội dung sinh hoạt (chuyên đề, hội nghị, họp định kì, ) được chủ trì cuộc họp gửi đến hộp thư điện tử của các thành viên hoặc qua
  17. 17 nhóm zalo để các thành viên dự họp có thời gian nghiên cứu trước. Trong cuộc họp, người chủ trì chỉ triển khai ngắn gọn sau đó tập trung đi sâu phân tích, đánh giá; dành nhiều thời gian cho các thành viên thảo luận, chia sẻ, đề xuất các ý kiến xây dựng và góp ý cho nội dung buổi sinh hoạt. Đối với các giáo viên có năng lực về công nghệ thông tin, khuyến khích các thầy cô tích cực xây dựng học liệu dạy học trực tuyến, bài giảng e-learning, câu hỏi trực tuyến, đóng góp vào kho bài giảng e-learning, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm trực tuyến, kho học liệu số của ngành. Ngoài ra, tham mưu hiệu trưởng chỉ đạo tăng cường đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lí và điều hành nhà trường: tiếp tục triển khai Cơ sở dữ liệu ngành giáo dục, Cơ sở dữ liệu quản lý cán bộ công chức, viên chức của nhà trường, phần mềm Phổ cập giáo dục; rà soát, đánh giá cập nhật cổng thông tin điện tử, các phần mềm khác liên quan đến quản lí các hoạt động của trường. Có thể nói, việc ứng dụng công nghệ thông tin giúp giáo viên, nhà trường quản lí văn bản toàn diện, quản lí tài liệu chuyên nghiệp, điều hành công việc toàn diện, phân công, xử lí công việc, xử lí văn bản từ xa ở mọi nơi, mọi lúc, gửi thông báo hàng loạt, trao đổi thảo luận, trưng cầu ý kiến, lấy ý kiến, thuận tiện hơn. 2.5. Thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong đội ngũ giáo viên Trong chỉ đạo hoạt động giáo dục của nhà trường công tác kiểm tra, đánh giá là biện pháp không thể thiếu được và có ý nghĩa quan trọng. Thường xuyên kiểm tra, đánh giá sẽ giúp Ban giám hiệu nhà trường xác định được mức độ, hiệu quả quá trình ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở nhà trường nói chung và các hoạt động chuyên môn nói riêng. Qua đó đề ra các biện pháp điều chỉnh cụ thể, phù hợp, kịp thời, chính xác để việc ứng dụng công nghệ thông tin mang lại hiệu quả thiết thực nhất. Trong công tác ứng dụng công nghệ thông tin, mục đích của kiểm tra, đánh giá không phải để phê bình, khiển trách mà chủ yếu giúp phát hiện sai sót để điều chỉnh, rút kinh nghiệm và tư vấn khắc phục kịp thời; phát hiện gương tốt, những kinh nghiệm hay, những cá nhân có tiềm năng để tận dụng, nhân rộng và khen thưởng. Từ đó nâng cao ý thức tự giác của giáo viên, có tác dụng tích cực trong công tác quản lý việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.
  18. 18 Công tác kiểm tra, giám sát cần phải thực hiện thường xuyên. Để kiểm tra, đánh giá công tác ứng dụng công nghệ thông tin của giáo viên một cách chính xác, tôi kết hợp nhiều hình thức kiểm tra khác nhau: - Kiểm tra qua hồ sơ sổ sách giáo viên: hàng tháng, tôi lên lịch kiểm tra hồ sơ giáo viên trong nhà trường. Qua kiểm tra một số hồ sơ sẽ đánh giá được mức độ ứng dụng công nghệ thông tin của giáo viên như: kế hoạch bài học (giáo án), kết quả nhập liệu bảng tổng hợp chất lượng giáo dục của lớp (môn) mình phụ trách, hình thức trình bày đề kiểm tra,.. - Kiểm tra qua báo cáo tháng của tổ chuyên môn: Định kì vào đầu tháng, tổ trưởng chuyên môn báo cáo lên chuyên môn trường tình hình hoạt động của tổ về các mặt trong đó có công tác ứng dụng công nghệ thông tin: tình hình giảng dạy của giáo viên, số lượt dạy học ứng dụng công nghệ thông tin, tình hình thực hiện hồ sơ (trong đó có chất lượng soạn giáo án điện tử), tình hình ra đề kiểm tra, kết quả nhập đánh giá học sinh của giáo viên (ở các tháng chuẩn bị và kiểm tra định kì),... - Kiểm tra qua dự giờ thực tế giáo viên: Trong các hình thức kiểm tra, tôi thường xuyên sử dụng hình thức kiểm tra qua dự giờ thực tế. Bởi qua dự giờ sẽ giúp phát hiện ra điểm mạnh, điểm hạn chế của từng giáo viên một cách chính xác để từ đó có hướng tư vấn cụ thể, giúp giáo viên phát huy ưu điểm khắc phục nhược điểm chính xác, hiệu quả hơn. 3. Đánh giá sáng kiến Năm học 2022-2023, với quyết tâm tăng cường thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn trong nhà trường. Ngay từ đầu năm học, bản thân tôi đã linh hoạt triển khai và tổ chức thực hiện các biện pháp trên. Với sự phối hợp nhiệt tình của đội ngũ giáo viên nhà trường đã đạt được kết quả như sau: a. Đối với giáo viên - Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trong trường đã nhận thức được tầm quan trọng, lợi ích của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học nói riêng và công tác chuyên môn nói chung. Đa số các thầy cô giáo đều tích cực tự học tự rèn, nâng cao năng lực bản thân. - Được bồi dưỡng nâng cao kĩ năng thực hành ứng dụng công nghệ thông tin, việc thực hiện hồ sơ sổ sách, công tác soạn giảng của giáo viên đã có những kết quả đáng kể: Hồ sơ cá nhân, hồ sơ tổ khối đều thực hiện theo đúng mẫu quy định, khoa học và đẹp mắt không còn mắc lỗi sai chính tả, lỗi trình bày như trước.
  19. 19 Việc dạy học trình chiếu được giáo viên tiến hành thường xuyên và phổ biến hơn thể hiện qua bảng số liệu sau: Bảng tổng hợp số lượt dạy học ứng dụng công nghệ thông tin trong năm học 2022-2023 (Thời điểm thống kê đến tháng 4/2023) Tổng Số Số lượt ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học 1 số giáo giáo viên Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng viên thực 9/2022 10/2022 11/2022 12/2022 1/2023 2/2023 3/2023 4/2023 hiện ( lượt ) ( lượt ) ( lượt ) ( lượt ) ( lượt ) ( lượt ) ( lượt ) ( lượt ) 11 11 38 45 58 67 36 72 77 78 Quan sát bảng số liệu dễ dàng nhận thấy số lượt dạy học ứng dụng công nghệ thông tin của giáo viên ngày càng tăng, tháng sau nhiều hơn tháng trước. Riêng tháng 01/2023 chỉ thực hiện dạy học trong 2 tuần nên số tiết thực hiện có ít hơn các tháng khác. Biết ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, giáo viên có hứng thú trong việc thiết kế dạy học trình chiếu. Các tiết dạy trình chiếu hầu hết thành công, giáo viên không còn lạm dụng việc giới thiệu hình ảnh tràn lan không chọn lọc, không còn hiện tượng lỗi slide, lỗi kĩ thuật. Hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới hình thức, phương pháp dạy học của giáo viên được cải thiện rõ rệt. Bảng thống kê số lượt và hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học của giáo viên thời điểm đầu và cuối năm học 2022-2023 Số tiết dạy Số tiết dạy Số tiết dạy Số tiết dạy Tổng sử dụng sử dụng còn không ứng ứng dụng số Số thành thạo mắc lỗi kĩ dụng công Thời công nghệ giáo tiết công nghệ thuật nghệ thông điểm thông tin viên dự thông tin tin dự SL TL (%) SL TL (%) SL TL (%) SL TL (%) Phân loại đầu năm 11 11 6 54,5 1 16,7 5 83,3 5 45,5 (10/2022) Đánh giá cuối năm 11 11 11 100,0 8 72,7 3 27,3 0 0,0 (4/2023) 1 Bảng thống kê chi tiết ở Phụ lục 1 đính kèm
  20. 20 - Bên cạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp, hình thức dạy học, giáo viên đã tích cực vận dụng kĩ năng thực hành ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động hỗ trợ công tác chuyên môn. Bảng số liệu so sánh về trình độ hiểu biết và mức độ ứng dụng công nghệ thông tin của giáo viên thời điểm đầu và cuối năm học 2022-2023 Biết soạn thảo Biết truy cập Biết down Biết tự thiết kế Biết soạn Tổng văn bản thành các phần load bài giảng bài giảng Thời số thạo, trình bày mềm học liệu tài liệu trình chiếu E-Learning điểm giáo khoa học số viên SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ (%) (%) (%) (%) (%) Tháng 11 5 45,5 7 63,6 3 27,3 0 0,0 3 27,3 10/2022 Tháng 11 10 90,9 11 100,0 9 81,8 3 27,3 11 100,0 04/2023 Biết tham khảo tư liệu giảng dạy, hình ảnh, video minh họa trên các nền tảng học liệu số. Cùng với kĩ năng thiết kế các bài học trình chiếu sinh động, sáng tạo; khai thác có hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin đã mang lại hiệu quả cho các tiết dạy. Chất lượng tay nghề đội ngũ giáo viên cũng được nâng lên rõ rệt, thể hiện cụ thể qua bảng số liệu so sánh chất lượng đội ngũ giáo viên thời điểm đầu năm học và cuối năm học sau đây: Bảng tổng hợp so sánh kết quả xếp loại tiết dạy giáo viên thời điểm đầu và cuối năm học 2022-2023 Tổng số Kết quả giáo Tốt Khá Trung bình Chưa đạt Thời điểm đánh giá viên SL TL SL TL SL TL SL TL đánh giá (%) (%) (%) (%) Phân loại GV đầu 11 1 9,1 8 72,7 2 18,2 0 0,0 năm (tháng 10/2022) Đánh giá cuối năm 11 4 36,4 7 63,6 0 0,0 0 0,0 (tháng 04/2023) Trong các hội thi do các cấp tổ chức, 100% giáo viên nhà trường đã ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và đạt được một số thành tích đáng khích lệ như: