Sáng kiến kinh nghiệm Nâng cao chất lượng đọc trong môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 5, trường Tiểu học Giang Ly

pdf 31 trang vantien 24/09/2025 2050
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Nâng cao chất lượng đọc trong môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 5, trường Tiểu học Giang Ly", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfsang_kien_kinh_nghiem_nang_cao_chat_luong_doc_trong_mon_tien.pdf

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Nâng cao chất lượng đọc trong môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 5, trường Tiểu học Giang Ly

  1. I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Sự cần thiết của sáng kiến Thời đại ngày nay là thời đại của ngành công nghiệp 4.0, nó phát triển trên mọi phương diện của đời sống xã hội. Nó là điều kiện để đưa đất nước ta phát triển nhằm bắt kịp các nước tiên tiến khác trên thế giới. Với xã hội ngày càng văn minh, tiến bộ đòi hỏi nhận thức của mỗi người phải dần thay đổi và nâng cao. Con người phải sử dụng thành thạo công nghệ mới chinh phục được tri thức nhân loại. Để trở thành con người văn minh, hiện đại con người phải học hỏi và thực hành hằng ngày, như vậy, việc đọc lại càng có ý nghĩa hơn. Đọc đúng, hiểu đúng giúp ta tiếp cận, cập nhật thông tin liên tục, thường xuyên. Nhờ vậy, giúp chúng ta nắm bắt thông tin, trao đổi một cách dễ dàng và thuận tiện. Đọc làm cho con người có khả năng tiếp nhận các thông tin từ cuộc sống, hiểu tư tưởng, tình cảm của người khác, con người không chỉ được nhận thức mà còn rung động tình cảm, những mơ ước tốt đẹp, được khơi dậy sự sáng tạo, được bồi dưỡng tâm hồn. Thông tin ngày nay xuất hiện nhiều vô kể, việc đọc và chắt lọc thông tin đúng hay sai rất quan trọng. Nó đòi hỏi người đọc phải hiểu và nhận thức đúng đắn, tránh sự công kích, bịa đặt của các tổ chức chống phá Đảng và nhà nước. Môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học hình thành cho học sinh năng lực ngôn ngữ. Năng lực đó được thể hiện trong bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Trong chương trình của môn Tiếng Việt, phân môn Tập đọc đảm nhiệm hình thành và phát triển cho học sinh kỹ năng đọc (đọc đúng, đọc hiểu), một kỹ năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở bậc Tiểu học. Kỹ năng đọc thể hiện sự hiểu biết ngôn ngữ, và trình độ sử dụng ngôn ngữ của mỗi học sinh. Kỹ năng này được xem là một trong những tiêu chuẩn đánh giá chất lượng học tập của học sinh Tiểu học.
  2. 2 Vai trò của kỹ năng đọc rất quan trọng. Nếu học sinh có kỹ năng đọc tốt, điều đó hỗ trợ cho bản thân các em từ việc tìm tài liệu, tìm hiểu kiến thức và phát huy khả năng tự học của mình. Trải qua dịch bệnh Covid-19, học sinh phải tự xoay sở, tự học ở nhà, học online mà không hề được sự hỗ trợ trực tiếp từ thầy cô. Vì vậy, nếu được trang bị kỹ năng đọc tốt sẽ giúp các em rất nhiều trong học tập và làm việc trong cuộc sống. Trong khi đó ở trường Tiểu học, việc dạy đọc bên cạnh những thành công còn nhiều hạn chế. Học sinh chưa đọc được như mong muốn. Kết quả đọc của các em chưa đáp ứng được yêu cầu của việc hình thành kỹ năng đọc. Như vậy, cần đọc văn bản với giọng như thế nào phù hợp? Làm thế nào để học sinh đọc đảm bảo tốc độ ? Tổ chức các hoạt động học tập thế nào để học sinh tích cực trong giờ học ? Đó là những trăn trở của giáo viên trong mỗi giờ Tập đọc, cho nên bản thân tôi chọn sáng kiến “Nâng cao chất lượng đọc trong môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 5, trường Tiểu học Giang Ly”. 2. Mục tiêu nghiên cứu Tìm hiểu thực trạng và tình hình đọc văn bản của học sinh lớp 5, trường Tiểu học Giang Ly. Chỉ ra các yêu cầu cần thiết phải đầu tư cho chất lượng đọc trong môn Tiếng Việt, góp phần vào việc hỗ trợ cho giáo viên tìm ra phương pháp dạy học hiệu quả để phát triển các kỹ năng cho học sinh. Đề xuất được những giải pháp có khả thi về việc nâng cao chất lượng giảng dạy về kỹ năng đọc cho học sinh trong môn Tiếng Việt góp phần nâng cao chất lượng đọc trong nhà trường.
  3. 3 II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng của vấn đề Năm học 2022-2023, tôi được phân công chủ nhiệm lớp 5 trường Tiểu học Giang Ly. Đây là một ngôi trường nằm trên địa bàn xã miền núi thuộc huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa. Nơi tập trung dân cư chủ yếu là người dân tộc thiểu số T’rin. Lớp có 28 học sinh (9 nữ, 19 nam), trong đó có 28/28 học sinh là người đồng bào dân tộc thiểu số, có đến hơn 90% học sinh có điều kiện gia đình khó khăn (đều thuộc hộ nghèo và cận nghèo). Ngay từ những ngày đầu nhận lớp, bản thân tôi đã nhận thấy có những thuận lợi và gặp những khó khăn như sau: * Thuận lợi Được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo ngành, UBND huyện đầu tư cơ sở vật chất tương đối đầy đủ để phục vụ cho việc giảng dạy. Chính quyền địa phương, Ban giám hiệu và các đoàn thể trong nhà trường quan tâm đến chất lượng dạy và học của giáo viên, học sinh ở các khối lớp trong trường. Cơ sở vật chất nhà trường khang trang, phòng học có đầy đủ bàn ghế, đủ ánh sáng, không gian học tập rộng rãi, thoáng mát, là điều kiện thuận lợi để học sinh phát huy khả năng học tập. Chương trình học đảm bảo, đủ điều kiện dạy học 2 buổi/ngày. Trường được tổ chức hoạt động ăn trưa, bán trú tại trường. Đa số cha mẹ học sinh quan tâm, đề cao vai trò giáo dục, đồng thuận với giáo viên trong hoạt động học tập và rèn luyện của nhà trường. Giáo viên nhiệt tình, có tinh thần tự học, tự trau dồi kinh nghiệm để thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục. Học sinh lớp 5 các em đã lớn nên đa phần học sinh biết nghe lời thầy cô.
  4. 4 Đa phần nhà học sinh gần trường, thuận tiện cho việc đến lớp cũng như trao đổi với cha mẹ học sinh về vận động học sinh, thông báo về tình hình học tập, * Khó khăn Một số cha mẹ học sinh chưa thực sự quan tâm đến việc học của con em mình, giao phó trách nhiệm cho giáo viên và nhà trường. Đa số học sinh có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, ngoài việc học các em còn phụ giúp công việc gia đình: làm rẫy, trông em,... Học sinh chưa nêu cao tinh thần tự giác trong học tập, chưa biết cách tự học có hiệu quả; kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm còn hạn chế. Học sinh rụt rè, chưa phát huy được khả năng tự học. Một số em có tình trạng tâm lý chán học, thường xuyên vắng học ở nhà. * Số liệu khảo sát đầu năm Để phục vụ cho nghiên cứu, ngay từ đầu năm học bằng phương pháp điều tra, tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng về mức độ đọc của HS lớp 5, kết quả thu thập được như sau: Mức độ đọc Đọc được, Đọc âm, Tổng Đọc diễn Đọc đúng ngắt nghỉ vần, dấu cảm số chưa phù thanh chưa học hợp chính xác Tên bài đọc sinh SL TL SL TL SL TL SL TL 1. Những con sếu 28 3 10.7 11 39.3 8 28.6 6 21.4 bằng giấy 2. Bài ca về trái đất 28 4 14.3 6 21.4 12 42.9 6 21.4 Kết quả khảo sát cho thấy, một phần ít số học sinh cả lớp có ý thức trong cách đọc các văn bản văn học. Bên cạnh đó, một bộ phận không nhỏ học sinh
  5. 5 đọc chưa chú ý đến cách ngắt, nghỉ hơi trong văn bản. Thậm chí còn tình trạng học sinh đọc chậm, nhẩm vần, mắc lỗi về dấu thanh khi đọc bài,... Từ kết quả khảo sát ban đầu về chất lượng học tập môn tiếng Việt, nhất là phần đọc, bản thân đi tìm hiểu nguyên nhân để tìm biện pháp khắc phục, nguyên nhân cụ thể như sau: - Học sinh đọc chậm chưa đảm bảo được tốc độ theo yêu cầu cần đạt. - Học sinh chỉ cố gắng đọc đúng tiếng, từ ngữ chứ chưa chú ý đến cách ngắt, nghỉ hơi, đọc chưa chính xác âm, vần và dấu thanh. - Học sinh chưa quan tâm đến việc thể hiện giọng đọc của người dẫn truyện, các nhân vật trong truyện nên giọng đọc chưa giàu cảm xúc, chưa có tính biểu cảm. - Học sinh chưa hứng thú tham gia vào giờ học, chưa chủ động chuẩn bị và tìm hiểu các văn bản trước khi lên lớp. - Tâm lý học sinh lo lắng, chưa tự tin khi được thầy, cô giáo mời đọc bài. 2. Giải pháp thực hiện 2.1. Rèn học sinh luyện đọc đúng trong giờ Tập đọc * Luyện đọc đúng từ ngữ Giờ học Tập đọc trong bộ môn Tiếng Việt là giờ mà mỗi học sinh có những biểu hiện rõ ràng nhất về kỹ năng đọc của mình. Để giúp học sinh đọc tốt, người giáo viên cần rèn cho học sinh kỹ năng tìm, phân tích từ ngữ khó. Điều này giúp các em được chú ý, ghi nhớ và biết cách khắc phục để đọc đúng tiếng, từ ngữ. Trong dạy học, sau khi tổ chức đọc nối tiếp lượt 1, giáo viên khuyến khích học sinh tìm từ ngữ khó xuất hiện trong bài, hướng dẫn học sinh nêu và xác định từ ngữ ấy khó ở bộ phận nào (âm, vần hay dấu thanh,....). Giáo viên lưu ý từ ngữ, giúp học sinh gạch chân chỗ khó, giáo viên xét hiện tượng từ khó, hướng dẫn, đọc mẫu và cho học sinh đọc lặp lại từ ngữ 3 lần. Ví dụ: Khi dạy học bài “Những con sếu bằng giấy” học sinh nêu từ khó: nhiễm, truyền thuyết, lặng lẽ, nguyên tử, và yêu cầu học sinh nêu chỉ ra từ khó:
  6. 6 - nhiễm (thanh ngã) - truyền thuyết (vần uyên, uyêt) - lặng lẽ (thanh ngã) - nguyên tử (vần uyên) Giáo viên gạch chân vị trí mà học sinh thường phát âm chưa chuẩn, giúp học sinh luyện đọc từ ngữ và khắc phục lỗi phát âm, giáo viên đọc mẫu với tốc độ phát âm khẩu hình vừa phải, học sinh chú ý, lắng nghe và nhắc lại từ khó 3 lần. Ngoài ra, giáo viên nêu cao tinh thần tự học của lớp một cách thường xuyên, liên tục, đồng thời kết hợp trong các hoạt động học tập của môn học khác. Điều đó tạo được sự gắn kết thầy trò, giúp học sinh cảm nhận sự gần gũi, thoải mái để cố gắng học tập tốt hơn. * Luyện đọc đúng văn bản Đọc đúng là thể hiện lại văn bản một cách chính xác, không có lỗi, không đọc thừa, không đọc thiếu tiếng, từ, dấu thanh,... Để giúp học sinh đọc đúng, tôi chú ý lắng nghe để hỗ trợ kịp thời, hướng dẫn học sinh cách khắc phục. Bên cạnh đó, tôi động viên, khích lệ các em trong từng lượt đọc, lần đọc. Sau mỗi lần đọc, tôi nhận xét, góp ý và hướng dẫn cách thực hiện để đọc tiến bộ. Ngoài ra, cách đứng và cầm sách khi đọc cũng ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả khi học sinh thể hiện kỹ năng đọc đúng. Tôi hướng dẫn học sinh đứng thẳng, hai tay đều phải cầm sách, tay phải cầm khổ dọc, tay trái cầm khổ ngang bên trên của sách, mắt cách sách khi đọc 20-25cm, phải tập trung vào đoạn đọc, đọc với cường độ vừa đủ nghe, tốc độ đọc vừa phải. Đồng thời, cũng tạo cho học sinh tâm lý thoải mái, nhẹ nhàng khi đọc. * Luyện đọc ngắt, nghỉ hơi Đọc ngắt, nghỉ hơi đúng chỗ trong văn bản giúp cho bài đọc được lưu loát, trôi chảy và nội dung được truyền tải một cách dễ hiểu. Đặc biệt là khi thực hiện đọc những câu văn dài nhưng lại không xuất hiện các dấu câu, học sinh chưa
  7. 7 biết cách dừng để nghỉ hơi sao cho phù hợp. Để khắc phục, tôi thường xuyên hướng dẫn, làm mẫu và nhắc nhở khi đọc, học sinh nắm vững nghĩa ở những cụm từ, chỗ ngắt giọng, nghỉ hơi trong đoạn đọc và toàn bộ văn bản. Đồng thời cho học sinh hiểu ngắt nhịp phù hợp nhưng không làm thay đổi nội dung của văn bản. Bên cạnh đó, lưu ý học sinh nghỉ hơi ở dấu kết thúc câu hoặc dấu có ngăn cách các bộ phận câu với nhau (các dấu chấm, dấu hỏi, chấm than) ở cuối câu hoặc các (dấu phẩy, chấm phẩy). Khi đọc gặp những dấu câu, cần ngắt nghỉ hơi bằng khoảng thời gian phát âm một tiếng. Ví dụ: Bài thơ “Hành trình của bầy ong” - Sách giáo khoa Tiếng Việt 5, tập 1 trang 117. Trước khi đọc bài, giáo viên hỏi và hướng dẫn cách ngắt nhịp ở một số câu thơ, sau đó lưu ý nhịp đọc của câu lục là 3/3; nhịp đọc của câu bát là 3/5: “Nối rừng hoang với biển xa Đất nơi đâu cũng tìm ra ngọt ngào.” Ví dụ: Bài thơ “Nghĩa thầy trò” - Sách giáo khoa Tiếng Việt 5, tập 2 trang 79. Câu: “Thầy cảm ơn các anh. Bây giờ, nhân có đông đủ môn sinh, thầy muốn mời tất cả các anh theo thầy tới thăm một người mà thầy mang ơn rất nặng.” * Luyện đọc diễn cảm Để rèn học sinh hình thành kỹ năng đọc diễn cảm, giáo viên cần tập luyện giọng đọc hay để làm mẫu, thu hút và gây sự chú ý của học sinh, điều đó giúp học sinh cảm nhận được về nội dung, ý nghĩa, tình cảm của bài qua giọng đọc. Chỉ khi hiểu nội dung, ý nghĩa văn bản thì học sinh mới có thể đọc diễn cảm tốt. Để phát huy kỹ năng đọc diễn cảm, giáo viên cho học sinh luyện tập và thể hiện giọng đọc qua cảm xúc, cảm nhận cá nhân,... qua đó điều chỉnh, chỉ dẫn cách đọc và cách làm nổi bật đoạn đọc bằng cách nhấn giọng ở những từ ngữ “đắt giá” (những từ ngữ được dùng với ý nghĩa đặc biệt, nhằm làm nổi bật cho một sự vật, hiện tượng,...) trong đoạn, bài.
  8. 8 Ví dụ: Khi đọc diễn cảm đoạn trong bài “Mùa thảo quả” - Sách giáo khoa Tiếng Việt 5, tập 1 trang 113. Giáo viên đọc mẫu, học sinh lắng nghe giọng đọc và tìm từ ngữ “đắt giá” trong bài đọc; giáo viên nêu giọng đọc nhẹ nhàng, thể hiện hương thơm nồng nàn, ngây ngất của thảo quả lan tỏa trong không gian; nghỉ hơi hợp lí ở các câu ngắn. “Thảo quả trên rừng Đản Khao đã vào mùa. Gió tây lướt thướt bay qua rừng, quyến hương thảo quả đi, rải theo triền núi, đưa hương thảo quả ngọt lựng, thơm nồng vào những thôn xóm Chin San. Gió thơm. Cây cỏ thơm. Đất trời thơm. Người đi từ rừng thảo quả về, hương thơm đậm ủ ấp trong từng nếp áo, nếp khăn.” Khi luyện tập, giáo viên cho học sinh thảo luận, nhận xét về giọng đọc, nêu cách đọc cho phù hợp: giọng vui, tự hào, giọng trầm buồn, chậm rãi, tha thiết, hóm hỉnh,... xác định giọng đọc cho các kiểu câu (câu hỏi, câu cảm, câu khiến, câu kể). * Đối với câu hỏi, hướng dẫn nhấn mạnh từ ngữ hỏi và lên giọng ở cuối câu: Ví dụ: Bài Tập đọc “Người công dân số Một” - Sách giáo khoa Tiếng Việt 5, tập 2 trang 4. - Anh Thành: Anh Lê này! Anh học trường Sa-xơ-lu Lô-ba... thì....ờ anh là người nước nào? (Giọng đọc ngập ngừng, chậm rãi, thể hiện sự phân vân, lên giọng ở cuối câu) - Anh Thành nói: Làm thân nô lệ ... yên phận nô lệ thì mãi mãi là đầy tớ cho người ta... Đi ngay có được không, anh? (Giọng đọc từ tốn, thể hiện sự quyết đoán, nóng lòng muốn ra đi tìm đường cứu nước, lên giọng ở cuối câu) Bài thơ “Chú đi tuần” - Sách giáo khoa Tiếng Việt 5, tập 2 trang 51.
  9. 9 - Các cháu ơi, giấc ngủ có ngon không? (Giọng tha thiết, tình cảm, thể hiện sự quan tâm, lo lắng cho các cháu thiếu nhi, lên giọng ở cuối câu) * Đối với câu cảm, hướng dẫn sử dụng giọng nhẹ nhàng nhưng lịch sự, thể hiện sự đánh giá, nhận xét hoặc cảm xúc của nhân vật: Ví dụ: Bài Tập đọc “Tác phẩm của Si-le và tên phát xít” - Sách giáo khoa Tiếng Việt 5, tập 1 trang 58. Câu: “Sao ngài lại nói thế ? Si-le là một nhà văn quốc tế chứ ! - Ông già điềm đạm trả lời.” (Khi đọc lời của ông già người Pháp, cần dùng giọng đọc bình tĩnh, chậm rãi thể hiện sự hóm hỉnh, tỏ ra vẻ không sợ hãi tên phát xít khi nêu đánh giá, nhận xét của mình về nhà văn nổi tiếng Si-le) Ví dụ: Bài Tập đọc “Thái sư Trần Thủ Độ” - Sách giáo khoa Tiếng Việt 5, tập 2 trang 15. Câu: “Ngươi ở chức thấp mà biết giữ phép nước như thế, ta còn trách gì nữa!” (Dùng giọng đọc chậm rãi, rõ ràng, điềm đạm thể hiện sự nghiêm minh và công bằng của một vị Thái sư) * Đối với câu khiến, hướng dẫn sử dụng giọng nói nhẹ nhàng, tế nhị để yêu cầu, đề nghị sự giúp đỡ của người khác: Ví dụ: Bài Tập đọc “Chuỗi ngọc lam” - Sách giáo khoa Tiếng Việt 5, tập 1 trang 134. Câu: “Đẹp quá ! Xin chú gói lại cho cháu !” (Dùng giọng đọc hồn nhiên, ngây thơ thể hiện yêu thích, muốn mua chuỗi ngọc) Ví dụ: Bài Tập đọc “Một vụ đắm tàu” - Sách giáo khoa Tiếng Việt 5, tập 2 trang 108. Câu: Một ý nghĩ vụt đến, Ma-ri-ô hét to: “Giu-li-ét-ta, xuống đi ! Bạn còn bố mẹ...”
  10. 10 (Dùng giọng đọc giục giã, như thốt lên tự đáy lòng, thể hiện sự quan tâm, cao thượng của nhân vật Ma-ri-ô) * Đối với nhân vật hiền lành, hướng dẫn dùng với giọng nói hiền từ, chân thật: Ví dụ: Bài Tập đọc “Lòng dân” - Sách giáo khoa Tiếng Việt 5, tập 1 trang 24. - Dì Năm: Dạ, cậu kêu chi ? - Dì Năm: Dạ, hổng thấy. - Cán bộ: Lâu mau rồi cậu ? - Dì Năm: Đây rồi nè. Mấy cậu coi. Làng này ai hổng biết Lâm Văn Nên, 31 tuổi, con ông Dừa (đưa giấy cho cai, cai chuyển cho lính). (Dù tên Cai có ra sức hù dọa, lớn giọng nhưng nhân vật Dì Năm vẫn giữ phong thái và giọng điệu bình tĩnh, lịch sự, ứng biến nhanh nhẹn và thông minh) * Đối với giọng nhân vật phản diện, hướng dẫn sử dụng chọn giọng kiêu ngạo, hống hách, cường độ lớn: Ví dụ: Bài Tập đọc “Lòng dân” - Sách giáo khoa Tiếng Việt 5, tập 1 trang 24. - Cai: Để coi. (Quay sang lính) Trói nó lại cho tao (chỉ dì Năm). Cứ trói đi. Tao ra lịnh mà (lính trói dì Năm lại). - Cai: Trời ơi, con ruồi bay qua là tao biết ngay con đực hay cái mà. Qua mặt tao không nổi đâu! Bên cạnh đó, thường xuyên tổ chức có hiệu quả các hoạt động thi đua đọc diễn cảm để học sinh được cơ hội biểu diễn tài năng của mình trước lớp. Qua đó, các em cùng thi đua để mình đọc được hay và diễn cảm hơn, ngoài ra được nêu cảm nhận của mình nghe cô, thầy đọc. Thầy cô đọc hay chỗ nào? Thích cách đọc của bạn nào trong lớp?... Nhờ vậy, học sinh học được cách đọc đúng, đọc hay, đọc chưa hay để rút ra cách đọc phù hợp cho mình, tạo được dấu ấn, nét riêng trong cách đọc của mình.
  11. 11 2.2. Tổ chức có hiệu quả hoạt động luyện đọc nhóm trong giờ học Làm việc nhóm là hoạt động thường xuyên và không kém phần quan trọng trong quá trình học tập. Hầu hết tất cả công việc hiện nay đều yêu cầu người làm việc phải có kỹ năng này nhằm phục vụ công việc chung được hiệu quả. Vì vậy, trong dạy và học phân môn Tập đọc, tôi đặc biệt coi trọng và thường xuyên tổ chức kỹ năng này thông qua hoạt động “Luyện đọc theo nhóm”. Để thực hiện có hiệu quả, tôi chọn và đào tạo các nhóm trưởng về cách tổ chức hoạt động nhóm, quản lý, theo dõi và báo cáo kết quả nhóm. Tùy vào mỗi bài học mà giáo viên chia nhóm hợp lý, linh hoạt vì sẽ có lúc học sinh luyện đọc nhóm 3, nhóm 4 hoặc nhóm 5,... dựa theo độ dài của mỗi bài học. Khi tham gia làm việc nhóm, nhóm trưởng có nhiệm vụ phân từng đoạn cho mỗi thành viên. Các thành viên trong nhóm khi nhận nhiệm vụ, tiến hành thực hiện luyện đọc trong nhóm. Mỗi thành viên trong nhóm lắng nghe và sửa lỗi sai về cách phát âm về tiếng, từ ngữ, dấu thanh,... để giúp bạn mình đọc đúng (bằng cách yêu cầu bạn đọc lại từ ngữ 3 lần) và đảm bảo được kết quả làm việc nhóm. Nếu đã hoàn thành bài đọc mà vẫn còn thời gian, nhóm trưởng báo cáo hoàn thành bằng cách giơ tay, ra hiệu báo cho giáo viên và tiếp tục cho nhóm đọc thêm một lượt để rèn kỹ năng đọc cho bạn đọc chậm. Khi tham gia làm việc, nhóm trưởng nhắc mỗi thành viên đọc với cường độ vừa phải, vừa đủ nghe, tránh làm ảnh hưởng đến nhóm khác và ảnh hưởng chung đến hiệu quả tiết học. Nhóm trưởng phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong nhóm
  12. 12 Để tạo ra không khí cho hoạt động sôi nổi hơn, giáo viên yêu cầu thi đua chọn 2 nhóm thi đọc tốt. Nhóm được chọn là nhóm hoàn thành xong bài đọc nhanh và sớm nhất. Các nhóm luyện đọc trước lớp, học sinh lớp lắng nghe, nhận xét chung về cách đọc của nhóm. Sau đó, cho học sinh bình chọn nhóm đọc tốt nhất để tuyên dương. Giáo viên nhận xét chung, chú ý về các học sinh đọc chậm để động viên, khích lệ sự cố gắng, đồng thời cũng nhận xét về cách làm việc nhóm để lưu ý cho học sinh. Ví dụ: Trong nhóm 4, thầy nhận thấy các thành viên hỗ trợ rất tốt cho bạn Tuyên khi bạn đọc chưa đúng từ “ngửng đầu”, “thẫn thờ”,...; Nhóm 2 đã phân công cho bạn Luận đọc đoạn 1 phù hợp với khả năng đọc của bạn; Bạn Rông đã có cố gắng khắc phục lỗi về dấu thanh trong bài đọc, thầy có lời khen dành cho sự cố gắng của bạn,... Hình ảnh học sinh luyện đọc nhóm 5 Trong dạy học tiết Luyện Tiếng Việt (tiết Luyện đọc), tăng cường tổ chức luyện đọc theo nhóm để học sinh có cơ hội cùng nhau học tập, tương tác và giúp
  13. 13 đỡ từ những người bạn trong nhóm của mình. Giáo viên quy định thời gian đọc của nhóm. Khi nhóm đọc trước lớp, giáo viên tiến hành bấm thời gian. Sau khi đọc, các nhóm còn lại và giáo viên nhận xét (tốc độ, cường độ, phát âm,...), đồng thời nêu kết quả thời gian đọc của nhóm để nhóm khắc phục những hạn chế, đẩy nhanh tiến độ đọc trong những lần đọc sau. Hình ảnh học sinh tham gia thi đua đọc nhóm Ví dụ: Khi thực hiện Luyện đọc bài “Con gái”. Giáo viên tổ chức đọc nhóm và quy định thời gian đọc tối đa của nhóm là 2 phút 30 giây. Các nhóm lần lượt tham gia đọc, giáo viên cùng lớp nhận xét. Sau mỗi lượt đọc của nhóm, giáo viên đưa kết quả thời gian đọc: Nhóm 1: đọc 1 phút 51 giây; Nhóm 2: đọc 2 phút 33 giây; Nhóm 3: đọc 2 phút 33 giây; Nhóm 4: đọc 1 phút 57 giây; Nhóm 5: đọc 2 phút. Qua quan sát biểu hiện, học sinh các nhóm rất chờ đón, háo hức xem thử nhóm mình đã hoàn thành đọc trong thời gian bao nhiêu phút? Có nhanh hơn nhóm khác không? Nhóm nào được thầy khen đọc tốt nhất?... Qua hoạt động
  14. 14 này, tạo sự thi đua tích cực, các em cố gắng tự rèn luyện, giúp đỡ bạn trong nhóm đọc đúng, đọc tốt nhằm đạt kết quả tốt hơn. Từ đó, các em học tập sôi nổi, tích cực và giúp đỡ bạn đọc trong nhóm tiến bộ hơn. Như vậy, để học sinh làm việc nhóm tốt nói chung và học sinh luyện đọc nhóm có hiệu quả nói riêng, giáo viên cần tạo sự nhẹ nhàng, không áp lực, làm việc một cách thoải mái thì học sinh tham gia tích cực và chủ động. Giáo viên theo dõi, tư vấn, kịp thời hỗ trợ nhóm, cá nhân thực hiện nhiệm vụ là việc làm cần thiết và quan trọng, giúp học sinh nhận thấy lỗi sai, chỗ chưa hợp lí khi đọc,... Bên cạnh đó, cũng tạo ra sự thi đua với những yêu cầu khác nhau để học sinh hưởng ứng, tham gia một cách nhiệt tình và chủ động, lôi cuốn sự tham gia vào giờ học hiệu quả. 2.3. Phụ đạo, kèm cặp học sinh đọc chậm Trong quá trình giáo dục và đào tạo tri thức, việc nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh chậm tiến bộ là mối quan tâm lớn đối với sự nghiệp giáo dục. Vấn đề học sinh học chậm hiện nay đang được nhà trường quan tâm và tìm nhiều giải pháp để khắc phục. Muốn làm được điều này, người giáo viên ngoài giảng dạy trên lớp còn phải tìm tòi các nhóm phương pháp nhằm thực hiện việc phụ đạo có hiệu quả và giảm dần tỉ lệ học sinh chậm tiến bộ. * Giáo viên Dạy phụ đạo học sinh là cả một quá trình kiên tâm cho nên người giáo viên không nóng vội mà cần tạo ra sự nhẹ nhàng, động viên và khích lệ ở từng buổi phụ đạo. Ngoài thời gian phụ đạo trong các giờ học, giờ truy bài, giáo viên đăng kí thêm tiết học khác để có thời gian rèn luyện cho học sinh. Giáo viên xây dựng kế hoạch về nội dung dạy và tập trung nhiều vào kỹ năng đọc, rèn đọc đúng tiếng, đúng từ ngữ, đảm bảo tốc độ đọc, ngắt, nghỉ hơi,... Mỗi tiết phụ đạo, giáo viên dành ra từ 5 đến 7 phút để cho thi đọc giữa học sinh với nhau để tạo không khí thi đua, đồng thời đánh giá sự tiến bộ của học sinh. Sau mỗi lượt đọc, giáo
  15. 15 viên nhận xét, sửa sai, đồng thời tuyên dương, động viên để các em tự cố gắng hơn trong học tập. Sau mỗi tháng, giáo viên tiến hành kiểm tra chất lượng, nếu học sinh đạt về mức độ, yêu cầu ở kỹ năng đọc thì bồi dưỡng thêm các kỹ năng khác, môn học khác. Song nếu như học sinh vẫn chưa tiến bộ, giáo viên cần điều chỉnh phương pháp thực hiện để giúp các em rèn luyện có hiệu quả hơn. * Học sinh “Học thầy không tày học bạn”. Đúng như câu nói ấy, học sinh sẽ học từ bạn bè dễ dàng hơn học với cô, thầy. Vì vậy, để giúp học sinh thể hiện sự quan tâm, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau bản thân đã phát huy vai trò của phong trào học tập như: “Đôi bạn cùng tiến”; “Đôi bạn tốt”, “Nhóm bạn cùng tiến”.... Đầu năm học, giáo viên xếp vị trí ngồi theo quy ước 1:1 (1 bạn học khá kèm 1 bạn học chậm) để học sinh dễ dàng hỗ trợ nhau. Giờ truy bài, các cặp đôi tự giác đưa yêu cầu, kiểm tra bạn đọc bài và ôn bài cùng bạn. Giáo viên yêu cầu học sinh giúp bạn đọc đúng, đọc lưu loát bài đọc, giúp bạn sửa lỗi phát âm (nếu có). Hằng ngày, cặp đôi tự thực hiện việc kiểm tra và báo cáo với giáo viên sau mỗi giờ truy bài (sáng và chiều). Từ đó, giáo viên nắm được thông tin về sự tiến bộ, sự cố gắng ở từng học sinh để có hướng điều chỉnh, tổ chức các hoạt động hỗ trợ học tập phù hợp. Nhờ đó, các em sẽ học hỏi bạn mình những điều hay, tích cực hơn trong học tập. Bện cạnh đó, đã góp phần giảm tỉ lệ học sinh đọc chậm, học chậm của lớp. Để phát huy vai trò học tập của đôi bạn, giáo viên sắp xếp lại vị trí ngồi, linh hoạt thay đổi các cặp đôi 3 tháng/lần để các em có thể học được nhiều điều tích cực, điều hay từ bạn bè của mình. Ngoài ra giáo viên hướng dẫn học sinh cùng nhau tham gia hoạt động đọc sách ở ngoài giờ học. Qua đó, thắt chặt tình đoàn kết, thắm thiết từ bạn bè để các em có thể tự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau hoặc tìm kiếm sự giúp đỡ để cùng nhau tiến bộ trong học tập.
  16. 16 2.4. Tổ chức thi đua “Đọc nhanh, đọc đúng” Thi đua học tập là hình thức mà học sinh bộc lộ được kỹ năng, sự chủ động cũng như bản lĩnh của mình. Đặc biệt, ở lứa tuổi tiểu học, các em rất thích sự thi đua cùng bạn bè trong lớp để giành chiến thắng. Nắm được tâm lý đó, bản thân đã áp dụng vào trong mỗi giờ học, mỗi hoạt động học tập và rèn luyện để lôi cuốn, thu hút các em tham gia, vừa học vừa chơi, vừa giúp cho các em hoàn thành được các yêu cầu cần đạt của bài học, vừa tham gia hoạt động rèn luyện học tập thoải mái và nhẹ nhàng nhưng mang lại hiệu quả tích cực. Để tổ chức thi đua có hiệu quả và sôi nổi, vào buổi chiều thứ năm hàng tuần, giáo viên giao bài đọc về nhà để các em chủ động chuẩn bị trước, sẵn sàng cho “cuộc đua” tiết 5 sáng thứ sáu hàng tuần. Để đảm bảo ổn định thời gian và tâm lý học sinh, giáo viên tiến hành chia đoạn văn bản, chuẩn bị các phiếu thăm ghi đoạn đọc theo yêu cầu. Thể lệ cuộc thi “Đọc nhanh, đọc đúng” yêu cầu học sinh đọc to, rõ ràng, ngắt, nghỉ hơi hợp lí, thể hiện được tính biểu cảm trong giọng đọc,... và đảm bảo thời gian theo quy định về tốc độ đọc. Giáo viên chuẩn bị đồng hồ để bấm giờ đối với từng học sinh tham gia cuộc thi. Sau đó, tổ chức cho học sinh trong lớp cùng nhau thi đua. Ví dụ: Bài đọc “Giá trị của tình bạn”, giáo viên hướng dẫn, chia đoạn: Đoạn 1: “Ben là thần đồng âm nhạc .rời bỏ âm nhạc trong sự bế tắc.” trong thời gian dưới 1,5 phút. Đoạn 2: “La-la là một cô bé cổ vũ hết mình cho Ben khi cậu thi.” trong thời gian dưới 1,5 phút. Sau mỗi lượt thi của học sinh, giáo viên nhận xét và đưa kết quả về thời gian đọc của từng học sinh. Ban đầu, học sinh đọc chậm, đọc chưa đúng, vượt qua thời gian cho phép, nhưng khi thấy bạn mình đọc tốt, lưu loát hơn thì bản thân các em cũng ra sức phấn đấu rèn luyện, cố gắng nỗ lực để giống như bạn. Mỗi khi nghe giáo viên đọc thời gian lượt thi của mình, học sinh nào cũng háo hứng lắng nghe, muốn biết mình đọc bao nhiêu phút, bao nhiêu giây? Nhanh hay
  17. 17 chậm hơn tuần trước? Đọc có từ nào sai hay không? Đoạn đọc có mắc lỗi đọc gì không?... làm cho hoạt động thi đua thêm phần kịch tích và hấp dẫn. Những học sinh thi đọc tốt, đọc tiến bộ trong tuần sẽ được nhận 1 sticker cùng lời khen ngợi của thầy và cả lớp. Mỗi sự tiến bộ của học sinh được cả lớp ghi nhận và sự theo dõi, động viên, khích lệ của giáo viên. Giáo viên theo dõi và viết ghi chép riêng của mình vào sổ tay thi đua. Sau mỗi tháng, giáo viên tổng hợp và công bố những học sinh có tiến bộ về đọc trong tháng, qua rèn luyện hàng ngày và qua cuộc thi hàng tuần. Cuối mỗi học kì, giáo viên tổ chức tuyên dương cho các bạn có từ 06 sticker trở lên sẽ nhận 1 phần quà (bút chì, gôm, thước,...) vinh dự của thầy, cô giáo. Để học sinh có một sân chơi bình đẳng, giáo viên chia nhóm các đối tượng để tạo sự công bằng. Học sinh đọc chậm sẽ thi đua cùng nhóm (nhóm 1); học sinh đọc tốt hơn sẽ thi đua cùng nhóm (nhóm 2). Về mức độ và yêu cầu thi đua cũng khác nhau, cụ thể: + Nhóm 1: Yêu cầu đọc đúng tiếng, từ ngữ, đảm bảo về thời gian, tốc độ đọc. + Nhóm 2: Yêu cầu đọc lưu loát, trôi chảy, nghỉ hơi hợp lý, giọng đọc biểu cảm. Việc tạo ra sự thi đua tích cực hàng tuần đã làm cho không khí lớp học sôi nổi, tích cực, học sinh háo hức và mong chờ mỗi cuộc thi đua. Điều đó giúp các em tự tin, chủ động hơn trong học tập, đồng thời cũng rèn cho học sinh tính tự học, tự rèn của bản thân mình để theo kịp với các bạn trong lớp. 2.5. Giao việc phù hợp với năng lực, tạo hứng thú học tập khi ở nhà Lớp học là tập hợp các đối tượng học sinh không đồng đều về năng lực, cá tính, tâm lí,... Trong dạy và học, người giáo viên cần quan tâm đến các đối tượng học sinh, không bỏ lơ một học sinh nào trong lớp. Dựa vào mức học tập của từng học sinh, giáo viên giao việc một cách hợp lí, nhẹ nhàng, không quá sức, giúp học sinh từng bước thực hiện nhiệm vụ học tập dễ dàng. Đối với học sinh học chậm, giáo viên giao nhiệm vụ đơn giản (đọc 1 đoạn trong bài, trả lời 1 câu hỏi, đặt và viết 1-2 câu văn, ) và quan sát, theo dõi nhiều hơn, để kịp thời
  18. 18 hỗ trợ, tư vấn. Đối với học sinh năng lực, giáo viên nên chuẩn bị các yêu cầu, bài tập nâng dần độ khó, tránh trường hợp để học sinh có thời gian “rảnh” trong giờ học. Giáo viên khuyến khích sự sáng tạo của từng học sinh để các em phát huy tối đa năng lực học tập của mình. Ví dụ: Đối với học sinh học chậm, giáo viên yêu cầu về nhà đọc lại toàn bộ văn bản 2 lần và trả lời lại các câu hỏi. Đối với học sinh năng lực, giáo viên yêu cầu đọc và trả lời câu hỏi theo cách hiểu của mình (không nhìn sách khi đọc câu trả lời), có thể giao thêm viết đoạn văn về nêu cảm nhận về bài đọc, nêu suy nghĩ về nhân vật trong bài,... Cuối mỗi giờ tập đọc, bản thân dành ra 2-3 phút để giao việc cho học sinh chuẩn bị trước. Giao việc ở đây không có nghĩa rằng các em phải làm thêm bài tập về nhà, mà là yêu cầu các em tìm đọc các văn bản, câu chuyện, sách, báo,... trong các giờ ra chơi ở trường (thư viện, góc thư viện thân thiện, thư viện di động trong lớp,...), buổi tối ở nhà (sách giáo khoa, điện thoại,...). Để làm được việc này, giáo viên tạo ra tình huống, khơi gợi vấn đề bằng các câu hỏi tạo được sự tò mò, hứng thú các em phải tìm đọc, phải khám phá và tìm câu trả lời từ vấn đề mà giáo viên khơi gợi. Ví dụ: Sau khi dạy bài “Nghĩa thầy trò”, giáo viên giao việc, khơi gợi bằng cách đặt vấn đề: Các em đã thử vừa nấu cơm vừa đi chưa? Các em đã thử leo lên cây chuối chưa? Ở Việt Nam ta, có một ngôi làng đã kết hợp trò chơi leo cây chuối và vừa nấu cơm vừa đi rất thú vị. Để biết trò chơi đó thú vị hay không các em tìm đọc bài “Hội thổi cơm thi ở Đồng Vân” để tìm câu trả lời nhé! Để tạo thói quen đọc sách cho học sinh, người giáo viên nhắc nhở, khuyến khích học sinh thường xuyên đến thư viện nhà trường để tìm và đọc các văn bản, truyện đọc hoặc sách về truyền thuyết, các sự kiện và nhân vật lịch sử, tấm gương người tốt việc tốt,... Qua đó, giúp các em phát huy kỹ năng đọc, kỹ năng ghi nhớ các tình tiết, tóm tắt được câu chuyện. Kỹ năng này sẽ hỗ trợ cho các em rất nhiều trong giờ học phân môn Kể chuyện, kể lại cho bạn nghe câu chuyện mà mình đọc được, muốn chia sẻ trước lớp.
  19. 19 Giao việc phù hợp với khả năng học tập, cùng với việc đặt các câu hỏi, tạo ra các vấn đề, tình huống mới lạ gây được sự chú ý, tò mò, tự tìm kiếm, khám phá giúp học sinh có khả năng tự chuẩn bị việc học một cách chủ động, tự giác. Bên cạnh đó, rèn cho các em thói quen tìm và đọc sách ở trường, ở nhà, bằng những cách thức khác nhau. Công tác phối hợp với cha mẹ học sinh cùng tham gia vào công tác giáo dục là một biện pháp khá phổ biến và có hiệu quả. Cách làm này làm thắt chặt mối quan hệ giữa nhà trường và gia đình, cho phụ huynh thấy được vai trò và trách nhiệm của mình trong việc giáo dục con cái. Vì vậy, giáo viên nhờ phụ huynh đôn đốc, nhắc nhở con em mình học tập khi ở nhà và trao đổi lại với giáo viên để cùng bàn bạc tìm ra giải pháp rèn học sinh có hiệu quả. Từ đó, họ có cái nhìn khách quan, có ý thức và quan tâm đến việc học của con em mình. Hình ảnh học sinh tham gia hoạt động đọc sách hằng ngày tại lớp
  20. 20 Hình ảnh học sinh tham gia hoạt động đọc sách hằng ngày tại Thư viện thân thiện