Sáng kiến kinh nghiệm Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường thông qua việc giảng dạy bộ môn hóa học đối với học sinh khối 8, 9 ở trường TH&THCS Cầu Bà
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường thông qua việc giảng dạy bộ môn hóa học đối với học sinh khối 8, 9 ở trường TH&THCS Cầu Bà", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_giao_duc_y_thuc_bao_ve_moi_truong_thon.docx
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường thông qua việc giảng dạy bộ môn hóa học đối với học sinh khối 8, 9 ở trường TH&THCS Cầu Bà
- 1 PHỤ LỤC DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT ..................................................................1 I. ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................2 1. Sự cần thiết của sáng kiến...........................................................................2 2. Mục tiêu nghiên cứu....................................................................................3 2.1. Mục đích nghiên cứu.............................................................................3 2.2. Khách thể, đối tượng và thời gian nghiên cứu......................................4 2.3. Phạm vi và giới hạn sáng kiến ..............................................................4 2.4. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................4 II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ ................................................................................4 1. Thực trạng của vấn đề cần giải quyết..........................................................4 2. Nội dung nghiên cứu/giải pháp thay thế .....................................................7 2.1. Vận dụng kiến thức trong nội dung bài học để liên hệ thực tế có liên quan đến môi trường. ...................................................................................7 2.2. Xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập liên quan đến giáo dục môi trường ......................................................................................................................8 2.3. Minh hoạ nội dung giáo dục môi trường bằng những hình ảnh thực tế9 2.4. Đưa vào nội dung bài học những thông tin mang tính thời sự có liên quan đến môi trường ..................................................................................13 2.5. Xem các phim, video clip về hóa học và môi trường .........................15 3. Đánh giá sáng kiến....................................................................................16 4. Tổ chức thu thập minh chứng ...................................................................18 III. KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ ..................................................................18 1. Kết luận .....................................................................................................18 2. Khuyến nghị..............................................................................................18 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................20
- 2 Tên đề tài: Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường thông qua việc giảng dạy bộ môn hóa học đối với học sinh khối 8, 9 ở trường TH&THCS Cầu Bà. Tác giả: Phan Văn Chất Đơn vị: Trường TH&THCS Cầu Bà I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Sự cần thiết của sáng kiến Trong số những yếu tố ảnh hưởng đến cuộc sống của con người, môi trường là một nhân tố có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Môi trường bao gồm tất cả những yếu tố thuộc về tự nhiên như đất đai, cây cối, sinh vật, khí hậu,.... và rất nhiều tài nguyên thiên nhiên khác có ảnh hưởng đến sự sống của con người. Chính vì vậy, môi trường có vai trò vô cùng quan trọng, thậm chí có ý nghĩa quyết định đối với cuộc sống của con người. Môi trường là không gian sinh sống, tồn tại của con người; đồng thời cũng là nơi cung cấp tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho đời sống của chúng ta. Nhờ có đất đai, con người có thể xây dựng nhà cửa, nơi cư trú an toàn. Đất đai còn là nơi để con người trồng trọt, canh tác và thực hiện công cuộc lao động sản xuất tạo ra lương thực, thực phẩm. Những cánh rừng xanh là nơi cung cấp nguồn oxi trong lành và được ví như những lá phổi xanh của nhân loại, đồng thời có tác dụng chống lại những tác động của thiên tai như ngăn chặn xói mòn, sạt lở đất. Biển xanh, đại dương bao la là nguồn cung cấp hải sản phong phú cho con người ... Thế nhưng, thế giới đang bước vào giai đoạn phát triển không ngừng, hàng loạt sản phẩm ra đời giúp cho cuộc sống con người trở nên thuận lợi, đơn giản hơn. Đi liền với điều đó thì những khó khăn cũng gây nên bất lợi cho con người, đặc biệt là vấn đề ô nhiễm môi trường đang ngày càng trầm trọng, trở thành một thực trạng đáng báo động trong vô vàn những vấn đề mang tính thời sự hiện nay. Những nhân tố quan trọng như đất đai, nguồn nước, không khí,... đều bị ô nhiễm một cách nghiêm trọng. Đó là những mảnh đất bị bạc màu, vôi hóa, không còn khả năng canh tác; là bầu không khí chứa đầy khói bụi và các chất nguy hại đến cuộc sống của con người như khí cacbonic, khói bụi từ các khu công nghiệp,.... Nguồn nước sạch cũng ngày càng trở nên khan hiếm, hàng loạt những con sông vốn mang trên mình vẻ đẹp hiền hòa, trong xanh trở nên ô nhiễm với làn nước đen sì, bốc mùi hôi thối,.... Với hiện trạng và xu hướng diễn biến môi trường trong nhiều năm qua, nước ta cũng đang và sẽ phải đối đầu với nhiều thách thức lớn về môi trường để phát triển bền vững quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá thúc đẩy xu hướng đô thị hoá, mở rộng các hoạt động sản xuất – dịch vụ, nâng cao chất lượng cuộc sống và do đó đòi hỏi nhu cầu cao về năng lượng, nguyên liệu, các điều kiện thuận lợi về tự nhiên – xã hội đồng thời cũng làm tăng thêm nguy cơ ô nhiễm, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên. Vì vậy, giáo dục môi trường trong trường học có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm thực hiện chiến lược toàn cầu về bảo vệ Trái Đất - cái nôi của nhân loại, để
- 3 đảm bảo cho sự phát triển bền vững đồng thời cũng hướng đến xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Ở bất kì quốc gia nào, số lượng giáo viên và học sinh các cấp cũng chiếm tỉ lệ cao. Lực lượng này góp phần quan trọng đảm bảo tính hiệu quả của nhiệm vụ giáo dục môi trường. Trong nhiệm vụ này, ngành Giáo dục có trách nhiệm là đào tạo ra những thế hệ có đầy đủ tri thức về lí luận và thực hành giáo dục môi trường để phục vụ cho xã hội. Ở các nước trên thế giới, việc giáo dục môi trường đã được đưa vào trường học từ nhiều chục năm nay. Ở nước ta, việc đưa nội dung giáo dục môi trường vào chương trình thông qua các môn học được thực hiện qua quá trình cải cách giáo dục. Cũng như nhiều nước trên thế giới, nội dung giáo dục môi trường của nước ta tập trung chủ yếu vào các môn học có liên quan đến môi trường như: môn Hóa học, Sinh học, Địa lí, Giáo dục công dân, Công nghệ, .Và với đặc thù của mình, khoa học Hóa học cũng có mối liên hệ mật thiết với các yếu tố môi trường. Tại trường TH&THCS Cầu Bà, trong các giờ ra chơi, giờ chuyển tiết, tôi thấy học sinh chưa có ý thức bảo vệ môi trường, các em còn xả rác bừa bãi, chưa có ý thức vệ sinh cá nhân, Từ thực tế của việc giảng dạy tôi nhận thấy nguyên nhân các em học sinh chưa hiểu, chưa nắm rõ những yếu tố tác động của con người với môi trường hay ngược lại. Điều này là do các em chưa chịu khó tìm tòi khám phá, do gia đình các em không có những phương tiện để nhằm phục vụ cho sự tìm hiểu đó. Mặt khác, vì kỹ năng làm bài tập của các em chưa được tốt nên khi giảng dạy giáo viên thường chú ý đến việc giải các bài tập mà quên đi việc tích hợp những nội dung về môi trường trong các bài học cụ thể. Vì vậy, tôi mạnh dạn tìm hiểu, nghiên cứu và đưa ra sáng kiến: “Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường thông qua việc giảng dạy bộ môn hóa học đối với học sinh khối 8, 9 ở trường TH&THCS Cầu Bà” với mong muốn góp một phần công sức nhỏ bé của mình để cùng chung tay nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và giáo dục bảo vệ môi trường nói riêng. Tất cả vì môi trường “xanh – sạch – đẹp” cho hôm nay và mai sau. 2. Mục tiêu nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu Mục tiêu giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong môn hóa học là trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức tương đối đầy đủ về môi trường và kỹ năng bảo vệ môi trường. Các em phải ý thức được rằng giữ gìn bảo vệ môi trường sống phải từ các hoạt động bình thường, ngay trong lớp học, giờ chơi, lúc nghỉ ngơi, sinh hoạt trong gia đình, nơi công cộng. Xa hơn nữa là lúc làm việc trên nương rẫy, trong nhà máy, công sở, trường học. Và có khả năng cải tạo môi trường xung quanh bằng những việc làm đơn giản mà hiệu quả, cũng có thể nảy sinh những ý tưởng mới mẻ về bảo vệ môi trường trong suy nghĩ học sinh.
- 4 Việc tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Hóa học lớp 8, 9 vào một số bài cụ thể sẽ giúp học sinh giải thích được một số hiện tượng hóa học trong tự nhiên, trong thực tế cuộc sống, giúp các em có ý thức bảo vệ môi trường, nâng cao hứng thú học tập bộ môn Hóa học của học sinh. 2.2. Khách thể, đối tượng và thời gian nghiên cứu * Đối tượng nghiên cứu Một số vấn đề về ô nhiễm môi trường hiện nay. Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Hóa học lớp 8, 9 vào một số bài cụ thể. * Khách thể nghiên cứu Học sinh khối 8, 9 Trường TH&THCS Cầu Bà. * Thời gian nghiên cứu Từ 15/09/2022 đến 22/04/2023. 2.3. Phạm vi và giới hạn sáng kiến Học sinh khối 8, 9 trường TH&THCS Cầu Bà. 2.4. Phương pháp nghiên cứu Trong đề tài này tôi đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: Phân tích lý thuyết, sử dụng hình ảnh, số liệu minh họa, phương pháp giảng thuật, đàm thoại, tính toán hóa học, giải thích một số hiện tượng trong tự nhiên, tổng kết kinh nghiệm sư phạm và sử dụng một số phương pháp thống kê toán học trong việc phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm, Ngoài ra, tôi còn tham khảo các tài liệu đã được biên soạn và phân tích về vấn đề ô nhiễm và bảo vệ môi trường. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng của vấn đề cần giải quyết Nhiệm vụ của bộ môn là nghiên cứu về chất, sự biến đổi chất, có liên quan trực tiếp đến môi trường và các yếu tố của môi trường nên có rất nhiều thuận lợi cho việc triển khai nội dung giáo dục bảo vệ môi trường. Hơn nữa, đây cũng là một trong những mục tiêu cần phải đạt được trong các bài dạy hoá học có liên quan. Chủ đề giáo dục môi trường đã và đang được phổ biến rộng rãi trong nhà trường nên việc kết hợp giáo dục sẽ được đồng bộ, hiệu quả sẽ cao hơn. Sử dụng có hiệu quả cao đối với những bài học có hình ảnh, phim minh hoạ hợp lý. Gây được sự hứng thú, ngạc nhiên với các kiến thức mới lạ, vì vậy dễ dàng lôi kéo sự tham gia của học sinh vào tiết học, tạo cho học sinh sự hào hứng, làm cho tiết học sinh động hơn.
- 5 Tuy nhiên, Cầu Bà là một xã thuộc miền núi, kinh tế tương đối khó khăn, đa số người dân lao động kiếm sống bằng nghề làm rẫy, đi rừng nên nhận thức về học tập còn thấp, chưa quan tâm đến việc học của con em mình. Mặt khác, ý thức của đại bộ phận người dân về môi trường sống và bảo vệ môi trường còn rất thấp, chỉ thấy được những lợi ích trước mắt, chưa thấy được những nguy cơ mà thế hệ sau phải gánh chịu. Thực tế còn nhiều học sinh chưa yêu thích và hứng thú với bộ môn hoá học. Học sinh chưa biết được tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường và có thái độ thờ ơ với những vấn đề này. Học sinh chỉ tập trung vào các môn học như Toán, Văn, Anh. Điều kiện cơ sở vật chất chưa đầy đủ, thời gian học trên lớp ngắn nên học sinh chưa có điều kiện tiếp xúc thực tế nhiều. Trước khi áp dụng đề tài vào việc giảng dạy, tôi đã cho học sinh làm phiếu khảo sát tìm hiểu về tình hình môi trường và tổng hợp kết quả điểm bài thi giữa học kì I môn Hoá học khối 8, 9 năm học 2022 – 2023. Kết quả cụ thể như sau: * Kết quả các lớp được khảo sát trước khi thực hiện đề tài Đáp Sỉ Câu Đáp án TL Lớp Nội dung SL án số hỏi câu hỏi % đúng A 18 24.0% B 23 30.7% 1 B C 25 33.3% D 9 12.0% A 18 24.0% B 29 38.7% 2 C C 15 20.0% D 13 17.3% A 13 17.3% Nhận biết các hóa chất gây ô B 17 22.7% 8 43 3 D nhiễm môi trường liên quan C 17 22.7% 9 32 đến bài học D 28 37.3% A 13 17.3% B 28 37.3% 4 D C 19 25.3% D 15 20.0% A 18 24.0% B 22 29.3% 5 C C 18 24.0% D 17 22.7% 6 A 19 25.3% B
- 6 B 29 38.7% C 11 14.7% D 16 21.3% A 29 38.7% Xác định giải pháp tránh ô B 21 28.0% 7 A nhiễm môi trường C 12 16.0% D 13 17.3% A 21 28.0% B 14 18.7% 8 D C 26 34.7% Ý thức, thái độ bảo vệ môi D 14 18.7% trường A 21 28.0% B 20 26.7% 9 D C 10 13.3% D 24 32.0% Qua thống kê bài khảo sát ta thấy được tỉ lệ % đáp án của các câu gần như tương đương nhau, như vậy cho thấy đa số học sinh chưa xác định được đáp án chính xác. Chứng tỏ học sinh chưa xác định được tình trạng ô nhiễm môi trường, chưa có giải pháp cũng như ý thức bảo vệ môi trường. * Thống kê chất lượng điểm kiểm tra giữa học kì I môn Hoá học TB trở Kém Yếu TB Khá Giỏi Sĩ Số lên S số HS 0 <= 5 <= 8 <= 5 <= T Lớp 3.5 <= 6.5 <= học đã Điểm < Điểm < Điểm <= Điểm <= T Điểm < 5 Điểm < 8 sinh KT 3.5 6.5 10 10 SL % SL % SL % SL % SL % SL % 1 8 43 43 0 0.0 14 32.7 20 46.5 5 11.6 4 9.30 29 67.4 2 9 32 32 0 0.0 4 12.5 12 37.5 8 25.0 8 25.0 28 87.5 TỔNG 75 75 0 0.0 18 24.0 32 42.7 13 17.3 12 16.0 57 76.0 CỘNG Qua thống kê bài kiểm tra giữa học kì I ta thấy số lượng bài kiểm tra yếu còn nhiều (24.0%) và chất lượng các bài kiểm tra từ trung bình trở lên còn thấp (76.0%). * Thống kê chất lượng bộ môn giữa học kì I môn Hoá học. TB trở Kém Yếu TB Khá Giỏi Sĩ Số lên S số HS 0 <= 5 <= 8 <= 5 <= T Lớp 3.5 <= 6.5 <= học đã Điểm < Điểm < Điểm <= Điểm <= T Điểm < 5 Điểm < 8 sinh KT 3.5 6.5 10 10 SL % SL % SL % SL % SL % SL % 1 8 43 43 0 0.0 16 37.2 14 32.6 9 20.9 4 9.3 27 62.8 2 9 32 32 0 0.0 12 37.5 8 25 7 21.9 5 15.6 20 62.5
- 7 TỔNG 75 75 0 0.0 28 37.3 22 29.3 16 21.3 9 12.0 47 62.7 CỘNG Qua thống kê chất lượng bộ môn học kì I ta thấy số lượng học sinh yếu còn nhiều (37.3%) và chất lượng học sinh từ trung bình trở lên còn thấp (62.7%). 2. Nội dung nghiên cứu/giải pháp thay thế Có rất nhiều hình thức khác nhau để truyền tải nội dung giáo dục bảo vệ môi trường một cách hiệu quả đến học sinh, sau đây là một số những hình thức chủ yếu: 2.1. Vận dụng kiến thức trong nội dung bài học để liên hệ thực tế có liên quan đến môi trường. Thông thường, giáo viên thường đưa ra hệ thống câu hỏi : “Tại sao”, “Như thế nào” để dẫn dắt các em vào nội dung cần truyền tải. * Ví dụ 1: Khi dạy bài 2: Một số oxit quan trọng (Hoá học 9). Mục tiêu giáo dục môi trường: Lưu huỳnh đioxit là chất khí độc, gây ô nhiễm không khí, mưa axit Giáo viên đặt câu hỏi Câu 1: Để diệt chuột trong nhà kho, người ta thường dùng phương pháp đốt lưu huỳnh, đóng kín cửa nhà kho lại. Chuột hít phải khói sẽ bị sưng huyết hầu, co giật, tê liệt cơ quan hô hấp dẫn đến bị ngạt mà chết. Giải thích tại sao? (Lưu ý thí nghiệm đốt lưu huỳnh ở Hoá 8) Câu 2: Lưu huỳnh đioxit là một trong những chất khí chủ yếu gây ra những cơn mưa axit gây tổn hại cho những công trình được làm bằng sắt, thép. Hãy giải thích quá trình tạo thành mưa axit. (GV có thể giải thích thêm quá trình phá huỷ các công trình bằng đá, thép của mưa axit). * Ví dụ 2: Khi dạy bài 40: Dầu mỏ, khí thiên nhiên (Hoá học 9) Mục tiêu giáo dục môi trường: sử dụng nhiên liệu sạch, an toàn, thân thiện với môi trường. Giáo viên đặt câu hỏi: Vì sao hiện nay không dùng xăng pha chì nữa? (Xăng pha chì là thêm vào tetraetyl chì có tác dụng tiết kiệm 30% xăng dầu khi sử dụng. Vì khi cháy trong các động cơ, chì oxit bám vào các ống xả, thành xilanh nên thực tế có hoà tan thêm xăng đibrom etan thì chì oxit sẽ chuyển thành muối chì brommua dễ bay hơi thoát ra khỏi xilanh, ống xả thải vào không khí làm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng vì chì sẽ lan toả trong môi trường không khí, tồn tại trong thực vật, động vật khi tiếp xúc với khí thải sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người. Ngoài ra, hơi brom bay ra ảnh hưởng đến đường hô hấp) .
- 8 2.2. Xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập liên quan đến giáo dục môi trường Khi ra các bài tập, giáo viên có thể đưa một số bài tập có liên quan đến giáo dục môi trường. Trong quá trình giải bài tập, học sinh phải phân tích, tổng hợp, tìm tòi ra nội dung bài giải, nhờ đó có thể khắc sâu trong tư tưởng của các em. * Tính mới của giải pháp: Hình thức này không những giúp các em thấy được sự gần gũi giữa hoá học với thực tiễn mà từ đó các em còn có thể tự mình giải thích được những hiện tượng xảy ra trong tự nhiên liên quan đến những biến đổi hoá học. Nhờ vậy nội dung giáo dục môi trường sẽ trở nên thiết thực và hiệu quả được nâng cao. * Ví dụ 1: Khi dạy bài 12: Sự biến đổi chất – Phần II Hiện tượng hoá học (SGK/Hoá 8) Mục tiêu giáo dục môi trường: Bảo vệ kim loại ít bị ăn mòn do các yếu tố hoá học trong môi trường Giáo viên đặt câu hỏi: Câu 1: “Vì sao sắt bị oxi hoá trong không khí ẩm” Câu 2: Tại sao vật bằng sắt bị ăn mòn nhanh trong khí quyển có chứa cacbon đioxit, lưu huỳnh đioxit mặc dù những chất này không trực tiếp tác dụng với sắt? * Ví dụ 2: Khi dạy bài: “Tính theo phương trình hoá học – Hoá 8”. Giáo viên đưa ra bài tập củng cố: “Một nhà máy nhiệt điện mỗi ngày đêm 3 thải ra khí quyển 64 tấn SO2. Hỏi cần có bao nhiêu m dung dịch Ca(OH)2 0,0002 M để xử lí toàn bộ lượng SO2 trong khí thải đó?” Học sinh vận dụng tính chất hoá học của lưu huỳnh đioxit để giải bài tập. Qua đó, giáo viên giáo dục: cần hạn chế lượng khí thải lưu huỳnh đioxit để góp phần bảo vệ môi trường. * Ví dụ 3: Sau khi làm thí nghiệm có những chất khí thải độc hại sau: HCl, H2S, CO2, SO2. Có thể dùng chất nào sau đây để loại bỏ chúng là tốt nhất? A. Nước vôi trong. B. Dung dịch HCl. C. Dung dịch NaCl. D. Nước. Giải thích và viết các phương trình hoá học nếu có. (Bài ôn tập học kì 1 - Hóa học 8). * Ví dụ 4: Những hiện tượng nào dưới đây là hiện tượng vật lí, hiện tượng hóa học? (Bài Sự biến đổi chất- Hóa học 8). a. Vành xe đạp bằng sắt bị gỉ sau một thời gian. b. Mặt trời mọc, sương bắt đầu tan. c. Cháy rừng gây ô nhiễm lớn cho môi trường.
- 9 d. Hiệu ứng nhà kính (do CO2 tích tụ nhiều trong khí quyển) làm cho Trái đất nóng lên. e. Các quả bóng bay lên trời rồi nổ tung. f. Khi đốt cháy than, củi sinh ra nhiều khí độc như CO, SO2,... gây ô nhiễm môi trường. * Ví dụ 5: Khi dạy bài: “Tỉ khối của chất khí - Hóa học 8”. Mục tiêu giáo dục môi trường: Thả bóng bay trong ngày khai trường có thể gây nổ và xác bóng bay gây ô nhiễm môi trường. Giáo viên đặt câu hỏi: Vì sao quả bóng được bơm bằng khí hidro khi thả ra bay lên trời, còn nếu chúng ta thổi thì lại rơi xuống đất? * Ví dụ 6: Nếu dùng quá nhiều phân lân, phân đạm so với nhu cầu của cây trồng thì sẽ ảnh hưởng như thế nào đến sông hồ, nguồn nước ngầm? (Bài 11 – Phân bón hóa học - Hóa 9) * Ví dụ 7: Có các thí nghiệm sau Thí nghiệm 1: Cho một mảnh đồng nhỏ vào ống nghiệm đựng dung dịch kali nitrat. Thí nghiệm 2: Cho một mảnh đồng nhỏ vào ống nghiệm đựng dung dịch kali nitrat rồi nhỏ vài giọt dung dịch axit sunfuric đặc và đậy nút bông lại, lắc đều. a. Hãy dự đoán hiện tượng xảy ra trong ống nghiệm. Viết phương trình phản ứng nếu có? b. Cần lưu ý những gì để đảm bảo an toàn khi làm thí nghiệm 2? c. Nút bông cần được tẩm hoá chất gì để không gây ô nhiễm môi trường? d. Dung dịch thải ra sau khi kết thúc thí nghiệm cần được xử lý như thế nào để không gây ô nhiễm môi trường? 2.3. Minh hoạ nội dung giáo dục môi trường bằng những hình ảnh thực tế “Trăm nghe không bằng một thấy”. Thật vậy, lời nói của giáo viên dù có thu hút, thuyết phục đến bao nhiêu cũng không bằng những hình ảnh thật, sinh động mà học sinh thấy được. Giáo viên có thể sưu tầm và đưa vào những hình ảnh cụ thể để minh hoạ cho nội dung giáo dục môi trường. * Tính mới của giải pháp: Đây là biện pháp tốt, vừa bổ sung tài liệu cho sách giáo khoa, vừa gây hứng thú học tập cho học sinh. Học sinh có thể tự chuẩn bị tài liệu, tranh ảnh theo sở thích của mình. Tư liệu tranh ảnh dễ tìm.
- 10 Từ đó các em sẽ có ý thức hơn trong việc giữ gìn sức khỏe của bản thân và mọi người trong gia đình bằng các hành động thiết thực như không gây ô nhiễm môi trường và có các biện pháp cụ thể để bảo vệ môi trường. * Ví dụ 1: Khi dạy bài 12: Sự biến đổi chất (Hoá học 8) Mục tiêu giáo dục môi trường: Tác hại của tình trạng ô nhiễm không khí và việc bảo vệ không khí trong sạch là nhiệm vụ của mỗi người, mỗi quốc gia. Giáo viên đặt câu hỏi: Bầu không khí của chúng ta hiện nay như thế nào? Học sinh: trả lời. Giáo viên trình chiếu một số hình ảnh về ô nhiễm không khí do bụi, khí thải, xác chết sinh vật, hậu quả của việc ô nhiễm không khí,.... Giáo viên rút ra kết luận: Hãy góp phần bảo vệ bầu không khí trong lành tránh ô nhiễm. * Ví dụ 2: Khi dạy bài 40: Dầu mỏ và khí thiên nhiên (Hoá học 9), chúng ta có thể sử dụng một số hình ảnh để dạy về tính chất vật lý của dầu mỏ cũng như tác hại của việc tràn dầu. Giáo viên cho học sinh xem các hình ảnh về sự cố tràn dầu và yêu cầu các em quan sát, nhận xét về tính chất vật lý của dầu mỏ đồng thời nêu tác hại của sự cố này với môi trường. * Ví dụ 3: Khi dạy bài 13: Phản ứng hóa học (Hoá học 8)
- 11 Mục tiêu giáo dục môi trường: Hàm lượng các oxit của Cacbon trong không khí lớn gây ô nhiễm không khí, hiệu ứng nhà kính,.. Bài tập củng cố: Tại sao việc sử dụng than để nấu ăn, nung gạch ngói, nung vôi gây ô nhiễm môi trường? Biện pháp hạn chế gây ô nhiễm môi trường? Giáo viên trình chiếu một số hình ảnh: Giáo dục học sinh hiện nay đang khuyến khích sử dụng năng lượng mặt trời để hạn chế ô nhiễm môi trường. * Ví dụ 4: Khi dạy bài 36: Metan (Hóa học 9) Giáo viên thông báo từ metan ta có thể điều chế các chất làm lạnh như CFC, những chất này gây phá hủy tầng ôzôn. Sau đó , đưa hình ảnh về tầng ôzôn bị phá hủy, đồng thời giáo dục học sinh .
- 12 Hình ảnh tầng ôzôn bị thủng * Ví dụ 5: Khi dạy bài 54: Polime (Hoá học 9). Khi nghiên cứu về hiện tượng ô nhiễm môi trường do rác thải từ polime, giáo viên có thể cho học sinh xem một số hình ảnh về tác hại mà ô nhiễm rác thải nhựa, túi nilông được sản xuất từ polime gây ra. Từ đó giáo dục học sinh việc hạn chế rác thải từ polime bằng cách hạn chế sử dụng túi nilông và thay bằng túi giấy hoặc các loại túi phân hủy sinh học thân thiện môi trường. * Ví dụ 6: Khi dạy bài 41: Nhiên liệu (Hóa học 9), chúng ta có thể cho học sinh xem hình ảnh về tình hình khai thác than tại các mỏ than lớn ở nước ta như Quảng Ninh, Thanh Hóa.. và cho các em biết về mức độ ô nhiễm của công việc này đến đời sống môi trường xung quanh. Từ đó, rút ra nhận xét về cách thức bảo vệ môi trường khi khai thác nhiên liệu như than đá. 2.4. Đưa vào nội dung bài học những thông tin mang tính thời sự có liên quan đến môi trường * Tính mới của giải pháp Hình thức liên hệ thực tiễn này gợi cho học sinh những hình ảnh thiết thực, gần gũi, cho các em thấy được mối quan hệ mật thiết giữa hoá học với đời sống, với môi trường.
- 13 Từ đó học sinh biết vận dụng những kiến thức hoá học vào việc xây dựng, bảo vệ, cải tạo môi trường mà các em đang sống. * Ví dụ 1: Khi dạy bài: Nước (tiết 2) (SGK Hoá học 8) Mục tiêu Giáo dục môi trường: Giáo dục ý thức cải tạo và bảo vệ nguồn nước, hạn chế tình trạng ô nhiễm nước như hiện nay. Giáo viên có thể trình chiếu một số hình ảnh về hành vi vi phạm môi trường của công ty Vedan và hậu quả ô nhiễm nặng nề ở sông Thị Vải. Các phương hướng chống ô nhiễm và bảo vệ nguồn nước: - Tập trung xử lí các nguồn nước thải sinh hoạt. - Nhà máy, cơ sở sản xuất phải có hệ thống xử lí nước thải để tái sử dụng nước cho sản xuất hoặc thải ra hệ thống nước thải chung. - Nước rác rỉ ra từ các bãi chôn lấp rác thải sinh hoạt cần được xử lí trước khi hoà lẫn với nước ngầm hoặc nước mặt. - Sử dụng phân bón hoá học, chất bảo vệ thực vật hợp lí. - Nước thải đã qua xử lí có thể dùng để tưới cây, rửa đường, sử dụng trong xây dựng hoặc trong các dây chuyền công nghệ có sử dụng nước nhằm mục đích làm nguội sản phẩm. - Hướng dẫn, giáo dục, tuyên truyền nếp sống văn minh và ý thức bảo vệ môi trường của mỗi người dân trong đời sống cũng như trong lao động sản xuất. + Rút ra kết luận: Hãy góp phần bảo vệ nguồn nước sạch tránh ô nhiễm. * Ví dụ 2: Khi dạy bài: Chất – Phần II: Tính chất của chất (Hoá học 8) Mục tiêu giáo dục môi trường: Axit Sunfuric có thể tác dụng với kim loại và một số chất gây hại cho môi trường, ảnh hưởng xấu đến đất trồng,... Bài tập liên hệ: Làng đá Non Nước trong khu du lịch Ngũ Hành Sơn - Đà Nẵng là một địa điểm thăm quan nổi tiếng đã và đang thu hút một lượng lớn du khách trong và ngoài nước. Khi đến đây, du khách được xem tất cả các giai đoạn (cưa, xẻ, đục, đẽo đá, mài giũa, đánh bóng tượng) để làm ra một sản phẩm thủ công mĩ nghệ từ đá (tượng Phật, Hươu Nai, Mỹ Nhân Ngư ). Trong quá trình mài giũa, đánh bóng tượng, những người thợ ở đây đã hoà axit sunfuric vào nước rồi đổ trực tiếp lên tượng, như vậy đã rút ngắn được thời gian và công sức một cách đáng kể. Nước axit tràn xuống sân rồi chảy ra ngoài đường. Theo em, việc sử dụng axit như vậy có ảnh hưởng như thế nào đến môi trường?
- 14 * Ví dụ 3: Khi dạy bài: Oxit (Hoá học 8) Giáo viên giới thiệu về một số loại oxit axit, trong đó có oxit N2O hay còn gọi là “khí cười”, một loại khí được giới trẻ hiện nay sử dụng rất nhiều. Khí này có thể gây thủng tầng ôzôn và ảnh hưởng đến sức khỏe người dùng. Qua đó giáo viên giáo dục học sinh không sử dụng khí cười để tránh gây ô nhiễm môi trường. * Ví dụ 4: Khi dạy bài 41: Nhiên liệu (Hoá học 9) Giáo viên giới thiệu về xăng E5, loại xăng được đưa vào sử dụng vào đầu tháng 1.2018, có tác dụng giảm khí thải ra môi trường, góp phần làm không khí trong sạch hơn. Qua đây, nhắc nhở các em khuyên người thân của mình sử dụng xăng E5 để góp phần giảm thiểu khí độc thải vào môi trường. * Ví dụ 5: Khi dạy bài 16: Tính chất hoá học của kim loại (Hoá học 9), giáo viên có thể đưa sự kiện Huynhdai VinaShin đã thải chất nix – một loại chất chứa nhiều kim loại nặng như Pb, Cu, Al.. gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ của người dân Ninh Thuỷ, Ninh Hoà, Khánh Hoà vào năm 2007. 2.5. Xem các phim, video clip về hóa học và môi trường Bên cạnh các hình thức gắn nội dung giáo dục môi trường vào dạy học hoá học, thì cho học sinh xem các đoạn phim về hoá học và môi trường cũng là một biện pháp thiết thực và bổ ích giúp học sinh tiếp thu một cách thiết thực nhất, sinh
- 15 động nhất. Thông thường, một đoạn phim hoá học và môi trường tuy dung lượng ngắn, không tốn nhiều thời gian nhưng vẫn đảm bảo truyền tải được đầy đủ thông tin đến học sinh. Nổi bật nhất là các phim về ô nhiễm môi trường, tác hại do con người trực tiếp hay gián tiếp gây ra cho môi trường và cách khắc phục. Để kiểm tra nhận thức của học sinh sau khi xem phim, giáo viên nên đưa ra hệ thống các câu hỏi có liên quan để học sinh trả lời. Sau khi phân tích, tổng hợp nội dung trả lời của học sinh, giáo viên rút ra nội dung chính của vấn đề đồng thời gợi mở các biện pháp cải tạo, bảo vệ môi trường. * Tính mới của giải pháp: Hình thức này giúp học sinh tiếp thu một cách thiết thực nhất, sinh động nhất, tạo nhiều hứng thú cho học sinh. Từ đó biết học sinh biết vận dụng những kiến thức hoá học để tư vấn cho người thân, bạn bè, mọi người trong xã hội biết được tác hại của môi trường và ý thức giữ gìn môi trường xanh – sạch – đẹp. * Ví dụ 1: Khi dạy bài 2: Chất - Phần II – Tính chất của chất (Hoá học 8) Mục tiêu giáo dục môi trường: Lưu huỳnh đioxít là chất khí độc, gây ô nhiễm không khí, mưa axít,.. Thực hiện: Bên cạnh các hình thức lồng ghép khác, giáo viên có thể minh hoạ tình trạng ô nhiễm môi trường do khí SO 2 và các khí khác gây ra cho môi trường bằng đoạn phim minh hoạ, các em sẽ tiếp thu nội dung cần truyền tải một cách sinh động và có hứng thú hơn. * Ví dụ 2: Khi dạy bài 44: Rượu etylic (Hoá học 9), chúng ta có thể cho học sinh xem video về tác hại của rượu bia đối với con người. Từ đó, tạo ra tình huống có vấn đề đối với học sinh là nên sử dụng rượu như thế nào và để giải quyết vấn đề này học sinh cần vận dụng kiến thức hoá học và thực tế để thấy rõ tác hại của rượu bia đối với con người và môi trường. Từ đó giáo dục học sinh không nên sử dụng rượu bia. 3. Đánh giá sáng kiến Sau khi vận dụng đề tài tại trường TH&THCS Cầu Bà, học sinh đã có những hiểu biết và có thái độ tích cực về những vấn đề sau: Nhận biết được một số hóa chất có khả năng gây ô nhiễm đất, nước, không khí. Từ đó biết cách xử lý một vài chất thải đơn giản trong đời sống sản xuất. Có những giải pháp ngăn chặn những vấn đề mới có thể xảy ra trong tương lai ở gia đình và địa phương nơi các em đang học tập và sinh sống. Có ý thức trách nhiệm nhắc nhở người khác cùng tham gia bảo vệ môi trường. Học sinh nhận ra được các hành động thường ngày của mình cũng có thể góp phần hạn chế sự ô nhiễm môi trường.
- 16 Ý thức được nâng cao hơn, nên các em cũng thể hiện những hành động tích cực đối vời môi trường xung quanh các em như: giữ vệ sinh lớp học, không xả rác bừa bãi, tích cực xây dựng khuôn viên trường học xanh, sạch, đẹp,.... Các em tỏ ra thích thú với những hiểu biết mới của mình về môi trường nên có hứng thú tìm tòi kiến thức mới, có tinh thần học tập tốt hơn. Dẫn tới các bài kiểm tra học kì đạt kết quả cao, chất lượng bộ môn của học sinh có kết quả từ trùng bình trở lên tăng lên rõ rệt và hạn chế học sinh yếu kém. Sau khi áp dụng đề tài vào việc giảng dạy, tôi đã cho học sinh làm phiếu khảo sát tìm hiểu về tình hình môi trường và tổng hợp kết quả điểm bài thi giữa học kì II môn Hoá học khối 8, 9 năm học 2022 – 2023. Kết quả cụ thể như sau: * Kết quả các lớp được khảo sát sau khi thực hiện đề tài Đáp Sỉ Câu Đáp án TL Lớp Nội dung SL án số hỏi câu hỏi % đúng A 2 2.7% B 68 93.2% 1 B C 2 2.7% D 1 1.4% A 1 1.4% B 0 0.0% 2 C C 72 98.6% D 0 0.0% A 17 23.3% B 3 4.1% 3 D C 4 5.5% Nhận biết các hóa chất gây ô D 49 67.1% nhiễm môi trường liên quan A 0 0.0% 8 42 đến bài học B 0 0.0% 9 31 4 D C 1 1.4% D 72 98.6% A 15 20.5% B 8 11.0% 5 C C 49 67.1% D 2 2.7% A 19 26.0% B 50 68.5% 6 B C 1 1.4% D 3 4.1% A 59 80.8% Xác định giải pháp tránh ô 7 B 6 8.2% A nhiễm môi trường C 7 9.6%
- 17 D 1 1.4% A 1 1.4% B 0 0.0% 8 D C 13 17.8% Ý thức, thái độ bảo vệ môi D 59 80.8% trường A 3 4.1% B 6 8.2% 9 D C 3 4.1% D 61 83.6% Qua thống kê bài khảo sát ta thấy được tỉ lệ % đáp án chính xác tăng lên rõ rệt, ít học sinh chọn đáp án sai. Chứng tỏ học sinh đã thấy được tình trạng ô nhiễm môi trường, có ý thức bảo vệ môi trường và hình thành các giải pháp cụ thể để bảo vệ môi trường. * Thống kê chất lượng điểm kiểm tra giữa học kì II môn Hoá học TB trở Kém Yếu TB Khá Giỏi Sĩ Số lên S số HS 0 <= 5 <= 8 <= 5 <= T Lớp 3.5 <= 6.5 <= học đã Điểm < Điểm < Điểm <= Điểm <= T Điểm < 5 Điểm < 8 sinh KT 3.5 6.5 10 10 SL % SL % SL % SL % SL % SL % 1 8 43 43 0 0.0 6 14 14 32.6 7 16.3 16 37.2 37 86.1 2 9 32 32 0 0.0 2 6.3 13 40.6 11 34.4 6 18.8 30 93.8 TỔNG 75 75 0 0.0 8 10.7 27 36.0 18 24.0 22 29.3 67 89.3 CỘNG Qua thống kê bài kiểm tra giữa học kì II ta thấy số lượng học sinh yếu giảm nhiều (từ 24% giảm xuống còn 10.7%) và chất lượng các bài kiểm tra từ trung bình trở lên tăng lên rõ rệt (từ 76% tăng lên 89.3%) * Thống kê chất lượng bộ môn giữa học kì II môn Hoá học. TB trở Kém Yếu TB Khá Giỏi Sĩ Số lên S số HS 0 <= 5 <= 8 <= 5 <= T Lớp 3.5 <= 6.5 <= học đã Điểm < Điểm < Điểm <= Điểm <= T Điểm < 5 Điểm < 8 sinh KT 3.5 6.5 10 10 SL % SL % SL % SL % SL % SL % 1 8 43 42 0 0.0 5 11.6 13 30.2 17 39.5 8 18.6 38 88.4 2 9 32 31 0 0.0 1 3.1 17 53.1 13 40.6 1 3.1 31 96.9 TỔNG 75 75 0 0.0 6 8.0 30 40.0 30 40.0 9 12.0 69 92.0 CỘNG Qua thống kê chất lượng bộ môn giữa học kì II ta thấy không còn tỉ lệ học sinh yếu, kém và chất lượng học sinh từ trung bình trở rất cao (92.0%).
- 18 4. Tổ chức thu thập minh chứng Phiếu khảo sát tìm hiểu một số hiểu biết về môi trường (Trước khi thực hiện đề tài). Phiếu khảo sát tìm hiểu một số hiểu biết về môi trường (Sau khi thực hiện đề tài). Bảng thống kê chất lượng điểm kiểm tra giữa học kì I môn Hoá học. Bảng thống kê chất lượng điểm kiểm tra giữa học kì II môn Hoá học. Bảng thống kê tỉ lệ xếp loại học lực môn hóa học giữa học kì I. Bảng thống kê tỉ lệ xếp loại học lực môn hóa học giữa học kì II. III. KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ 1. Kết luận Trong quá trình giảng dạy cho học sinh, bên cạnh những kiến thức khoa học cơ bản, giáo viên còn cần phải trang bị cho các em những tri thức thực tiễn, mang tính thời đại. Giáo dục môi trường là một trong những nhiệm vụ vô cùng quan trọng và khẩn cấp. Việc giáo dục ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường cho học sinh không phải là một sớm, một chiều, do đó giáo viên cần kiên trì phối hợp với các chương trình tuyên truyền, giáo dục cộng đồng của nhà nước ta. Hơn nữa, đây không chỉ là công việc của các giáo viên giảng dạy bộ môn Hoá học trung học cơ sở mà là công việc chung của toàn thể những người làm công tác giảng dạy ở tất cả các cấp học. Do đó, cần có sự phối hợp đồng bộ để việc giáo dục môi trường có hiệu quả hơn, góp phần cải thiện môi trường sống của nhân loại “cái nôi của xã hội loài người”. 2. Khuyến nghị Để nâng cao được kết quả giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường. Bản thân tôi xin được có một số khuyến nghị như sau: + Thư viện nhà trường có thêm sách về các vấn đề liên quan đến môi trường để học sinh tham khảo góp phần mở rộng kiến thức. + Nhà trường nên tổ chức cho học sinh các buổi ngoại khóa nói về hóa học với cuộc sống con người và những vấn đề liên quan đến môi trường. + Tăng cường hỗ trợ các trang thiết bị, phòng thực hành phục vụ tốt cho việc giảng dạy thực hành theo chương trình cải cách mới, đảm bảo an toàn, không ảnh hưởng đến môi trường xung quanh. + Thường xuyên nhắc nhở, động viên các học sinh yếu, biểu dương kịp thời các học sinh khá giỏi. + Đối với một số học sinh chậm tiến bộ, học sinh yếu kém thì phải phối hợp chặt chẽ với GVCN thông tin kịp thời tình hình học tập đến gia đình học sinh để giúp các em tiến bộ hơn.
- 19 Trên đây, là một số giải pháp tôi đã áp dụng trong quá trình giảng dạy giáo dục môi trường tại trường của mình. Trong quá trình thực hiện đề tài không tránh khỏi thiếu sót, kính mong sự góp ý của quý thầy cô, Hội đồng chấm sáng kiến để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn./. Cầu Bà, Ngày 22 tháng 04 năm 2023 Hiệu trưởng đơn vị Người viết Phan Văn Chất
- 20 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1- Sách giáo khoa Hoá học 8 – Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. 2- Sách giáo viên Hoá học 8 – Nhà xuất bản Giáo dục. 3 -Sách giáo khoa Hoá học 9 – Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. 4 - Sách bài tập Hóa học 8 – Nhà xuất bản Giáo dục. 5 - Sách giáo viên Hoá học 9 – Nhà xuất bản Giáo dục. 6 - Sách bài tập Hóa học 9 – Nhà xuất bản Giáo dục. 7 - Hoá học môi trường, Đặng Kim Chi, NXB Xây dựng, 2006. 8 - Luật bảo vệ môi trường. 9 - Mạng internet: moi-truong-o-viet-nam-hien-nay--thuc-trang-va-giai-phap.html

