Sáng kiến kinh nghiệm Nâng cao hiệu quả dạy học bằng việc phát huy năng lực tự học của học sinh trong môn toán 6 tại trường THCS Trần Đại Nghĩa

doc 23 trang vantien 16/09/2025 1900
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Nâng cao hiệu quả dạy học bằng việc phát huy năng lực tự học của học sinh trong môn toán 6 tại trường THCS Trần Đại Nghĩa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_nang_cao_hieu_qua_day_hoc_bang_viec_ph.doc

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Nâng cao hiệu quả dạy học bằng việc phát huy năng lực tự học của học sinh trong môn toán 6 tại trường THCS Trần Đại Nghĩa

  1. NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC BẰNG VIỆC PHÁT HUY NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH TRONG MÔN TOÁN 6 TẠI TRƯỜNG THCS TRẦN ĐẠI NGHĨA MỤC LỤC Trang I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Sự cần thiết của đề tài 2 2. Mục tiêu nghiên cứu 2 II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng của vấn đề cần giải quyết 3 2. Nội dung nghiên cứu/ giải pháp thay thế 4 2.1. Phát huy năng lực tự học trên lớp 4 2.1.1. Phát huy năng lực tự học theo cá nhân 4 2.1.2. Phát huy năng lực tự học theo nhóm 7 2.2. Phát huy năng lực tự học cho học sinh ở nhà 9 2.2.1. Kĩ năng xây dựng kế hoạch và thời gian biểu tự học hợp lý 9 2.2.2. Kĩ năng đọc sách 10 2.2.3. Kĩ năng ghi chép 10 2.2.4. Kĩ năng học để nhớ 11 3. Các ví dụ minh họa 11 4. Đánh giá đề tài 20 5. Tổ chức thu thập minh chứng (Minh chứng đính kèm) 21 III. KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ 21 Tài liệu tham khảo 23
  2. 2 I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Sự cần thiết của đề tài Toán học là môn học có vai trò rất quan trọng đối với đời sống và đối với các ngành khoa học. Việc dạy học môn Toán có khả năng đóng góp tích cực vào việc giáo dục học sinh, giúp học sinh nắm được một cách chính xác và có hệ thống những kiến thức và kĩ năng toán học phổ thông cơ bản, hiện đại sát với thực tiễn Việt Nam. Học sinh có khả năng vận dụng những tri thức đó vào giải quyết những tình huống cụ thể khác nhau trong đời sống, trong lao động sản xuất và trong việc học tập các bộ môn khác. Quá trình học tập giúp học sinh nắm được nội dung và đồng thời giúp học sinh hình thành được một số năng lực của bản thân trong quá trình học tâp. Trong các năng lực của học sinh cần đạt trong bộ môn toán, tôi nhận thấy năng lực tự học là vô cùng quan trọng. Việc phát huy năng lực tự học giúp học sinh phát huy được tính tích cực, tự giác, đồng thời đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh, hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống thói quen học tập thụ động. Trong những năm công tác giảng dạy môn toán tại trường THCS Trần Đại Nghĩa, tôi luôn không ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn, đổi mới phương pháp giảng dạy để sao cho học sinh nắm vững kiến thức, kĩ năng cơ bản thiết yếu và cũng có thể vận dụng kiến thức toán vào thực tế cuộc sống. Bên cạnh đó tôi cũng đặt nhiệm vụ hàng đầu cho bản thân mình là: Làm thế nào để giúp học sinh phát huy năng lực tự học của bản thân? Phương pháp nào có thể đưa các em đến kiến thức nhanh, chính xác và khơi dậy cho các em niềm đam mê Toán học?... Rất nhiều những yêu cầu được đặt ra, nhưng bản thân tôi thấy việc rèn cho học sinh lớp 6 năng lực tự học là cấp bách và cần thiết hơn cả. Bởi các em lớp 6 vừa mới bước chân vào cấp học mới, các em bắt đầu làm quen với những môn học mới với những phương pháp giảng dạy và cách thức ghi bài mà yêu cầu ở các em thao tác nhanh nhẹn, chủ động kiến thức,... Nếu không có kĩ năng tự học tập, các em sẽ mất đi kĩ năng chủ động nắm bắt kiến thức, lười học toán, thụ động tiếp nhận những kiến thức mà giáo viên truyền đạt, thiếu sự sáng tạo dẫn đến kết quả học tập không cao. Vì thế việc giúp học sinh tiếp cận với công nghệ thông tin, có phương pháp học tập phù hợp, tạo hứng thú đam mê đối với môn toán là những phương pháp nhằm phát huy tính tự học, sở trường của bản thân. Người giáo viên có vai trò rất quan trọng để tìm ra phương pháp dạy học hiệu quả, định hướng cho học sinh tìm ra cách học, cách tự học, tự nghiên cứu bài học của mình. Do đó tôi mạnh dạn giới thiệu đề tài nghiên cứu: "Nâng cao hiệu quả dạy học bằng việc phát huy năng lực tự học của học sinh trong môn Toán 6 tại trường THCS Trần Đại Nghĩa" nhằm nâng cao chất lượng dạy học cho học sinh khối 6 nói chung và học sinh THCS Trần Đại Nghĩa nói riêng. 2. Mục tiêu nghiên cứu Trong những năm vừa qua Bộ giáo dục đào tạo và xã hội đã liên tiếp chỉ ra những hạn chế, yếu kém của giáo dục, trong đó có yếu tố chưa coi trọng thực hành, vận dụng kiến thức học được vào thực tế. Đặc biệt hiện nay học sinh lười biếng học bài, làm bài tập trở thành thói quen, rất đông học sinh không có hứng thú và động lực để học Toán, cảm thấy môn Toán khó và khô khan chỉ có những con số và phép tính toán. Vì vậy việc học Toán với các em rất nặng nề và bị động, hiệu quả không cao kéo theo nhiều hệ lụy khác. Nguyên nhân từ đâu? Có những lí do gì cho việc học sinh không thích môn Toán, lười học và học yếu. Nhưng là người giáo viên dù với bất kì lí do nào thì trước tiên bản thân
  3. 3 người giáo viên cần phải có phương pháp dạy học phù hợp và khơi dậy được cho các em niềm đam mê, chủ động sáng tạo trong học tập, có như vậy mới giúp các em và phụ huynh có cái nhìn khác về học tập nói chung và học Toán nói riêng. Qua những năm giảng dạy tôi nhận thấy rằng để phát huy năng lực tự học Toán của học sinh lớp 6 nói riêng và học sinh THCS Trần Đại Nghĩa nói chung, người giáo viên phải là người tổ chức các hoạt động học tập cho các em để các em tìm ra kiến thức, tư duy logic và vận dụng sáng tạo. Từ đó giúp các em phát huy năng lực tự học Toán của bản thân và dần đáp ứng được yêu cầu giáo dục suốt đời của xã hội phát triển và công nghệ như ngày nay. Để làm được điều này, giáo viên cần có cái nhìn sâu sắc hơn, quan tâm và chú ý đến việc phát huy năng lực tự học của học sinh. Với các em hoc sinh cần các định rõ mục tiêu học tập, có kế hoạch học tập cụ thể, sắp xếp thời gian hợp lí, chọn lọc và ghi nhớ kiến thức, học bài cũ và chuẩn bị bài mới, làm các bài tập vận dụng kiến thức và vận dụng sáng tạo. Ngoài ra học sinh rèn luyện tốt năng lực tự học các em có thể chủ động vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết bài toán thực tế, linh hoạt và sáng tạo trong học tập trải nghiệm, . Để từ đó trang bị cho các em những nền tảng ban đầu trong việc phát triển năng lực tìm tàng của chính bản thân, nhằm chuẩn bị tâm thế cho việc “học thường xuyên, học suốt đời” thì việc tự học là kim chỉ nam. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng của vấn đề cần giải quyết Qua thực tiễn dạy học phân môn Toán, tôi nhận thấy còn nhiều khó khăn: 1.1. Đối với học sinh: Còn một số phụ huynh học sinh còn chưa quan tâm đến việc học của các con, còn ỷ lại vào các thầy cô giáo. Ý thức tự học của các em còn thấp: lười học, không chịu suy nghĩ, động não. Chính vì thế trong quá trình học tập chưa đạt được hiệu quả cao. Trên lớp học chỉ có một số các em tìm hiểu tích cực và chú ý theo dõi giáo viên hướng dẫn một cách say mê. Còn lại các em vẫn còn thụ động trong việc học, không chịu khám phá kiến thức, một số còn lười học gây mất trật tự. Điều này một phần cũng là do giáo viên dạy học, vì có thể giáo viên đã đòi hỏi quá cao hoặc chưa chú ý đến các nhóm đối tượng học sinh trong lớp. Dẫn đến các em hiểu bài thì say mê được gọi lên bảng trả lời rất phấn khởi còn lại một số em chưa hiểu hoặc hiểu chậm thì không chịu học có tư tưởng sợ sệt hoặc chán học gây mất trật tự. 1.2. Đối với giáo viên: Một số giáo viên khi dạy môn toán 6 còn gặp nhiều khó khăn, nhiều tiết dạy chưa đạt hiệu quả cao như: Dạy chưa hết bài, hướng dẫn học sinh hoạt động chưa cụ thể, chưa tỉ mỉ, chưa phát huy hết năng lực của học sinh. Để làm được điều đó giáo viên cần phát huy năng lực tự học cho học sinh để đa số các em trong lớp hiểu bài và chịu khó học bằng cách cho các em hoạt động theo các mức độ từ dễ đến khó. Các em học yếu, trung bình sẽ trả lời câu hỏi dễ từ việc phát hiện, còn học sinh khá giỏi sẽ phân tích và kết luận vấn đề. Từ đó cả lớp sẽ có hứng thú học tập bộ môn Toán. Dưới sự chỉ đạo của giáo viên, học sinh phải dần dần có những phẩm chất, năng lực, thói quen thích ứng với phương pháp học tập, tự mình tham gia các họat động học tập, có ý thức trách nhiệm về kết quả học tập của mình và kết quả chung của lớp, biết tự học và tranh thủ học ở mọi lúc mọi nơi.
  4. 4 Chương trình sách giáo khoa đã giảm bớt khối lượng kiến thức, có thêm các bài toán sát với thực tế cuộc sống giúp các em cảm thấy môn Toán cũng gần gũi với cuộc sống của các em và nó không phải là môn khô khan, cứng nhắc. Đây là cơ sở để tạo điều kiện cho giáo viên tổ chức hoạt động học tập, tăng cường hệ thống các câu hỏi, tạo điều kiện cho giáo viên thực hiện phương pháp dạy học, giảm bớt những những lời giải mẫu, thay bằng những hướng dẫn tìm tòi, tăng cường các gợi ý để học sinh tự nghiên cứu, tự học phát triển nội dung bài học. Từ thực trạng đó, trong quá trình giảng dạy. Tôi nghĩ rằng đối với một giáo viên dạy Toán nói chung và đặc biệt môn Toán 6 cần chú ý những yêu cầu sau: •Phải khơi gợi hứng thú cho các em, tạo cơ sở để các em phát huy hết các năng lực của bản thân, quan trọng nhất là năng lực tự học. •Phải hướng dẫn học sinh một cách cụ thể, tỉ mỉ nội dung, yêu cầu của bài. •Học sinh biết vận dụng kiến thức vào làm bài. Qua lí luận và thực tiễn trên tôi quyết định lựa chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả dạy học bằng việc phát huy năng lực tự học của học sinh trong môn Toán 6 tại trường THCS Trần Đại Nghĩa” để đạt được mục đích dạy học với phương châm: Thầy là người hướng dẫn, trò là người thi công, giờ học trên lớp tất cả học sinh cùng phải làm việc và tự tìm ra kiến thức cho mình. 2. Nội dung nghiên cứu/ giải pháp thay thế 2.1. Phát huy năng lực tự học trên lớp Giáo viên tổ chức cho học sinh tự lĩnh hội nội dung kiến thức chứ không làm thay học sinh. Sự giúp đỡ của giáo viên đối với học sinh trong dạy học là giúp đỡ về phương pháp học, về cách thức tự học. Như vậy, bản chất của hoạt động dạy học để học sinh tự học là dạy cách học, các kỹ năng phát huy năng lực tự học. 2.1.1. Phát huy năng lực tự học theo cá nhân Phát huy năng lực tự học theo cá nhân (hay học sinh hoạt động cá nhân để giải quyết công việc) giáo viên cần giảm tối đa phương pháp độc thoại thuyết trình “lấy người dạy là trung tâm”, thay vào đó là sử dụng các phương pháp, kĩ thuật tăng cường hoạt động độc lập nhận thức của bản thân từng học sinh để các em tích cực “động não”, tự lực suy nghĩ phát hiện và giải quyết vấn đề. a) Các năng lực được sử dụng a.1. Năng lực nghe giảng và ghi chép bài giảng hợp lý Nghe giảng và ghi chép là những kỹ năng quan trọng của học sinh trong quá trình học tập nói chung và trong học toán nói riêng. Kết quả của việc nghe giảng và ghi chép ngoài việc thể hiện năng lực nhận thức, tư duy của người học còn thể hiện ở kỹ năng tự học của người đó. Để rèn luyện kỹ năng nghe giảng và ghi chép hợp lí cho học sinh. Người giáo viên cần hướng dẫn học sinh: - Cách kết hợp giữa việc vừa nghe giảng vừa ghi chép. - Nghe giảng với thái độ độc lập và có phê phán; ghi chép hoặc thắc mắc những chỗ còn hoài nghi hoặc chưa hiểu để hỏi bạn và thầy. - Nghe giảng đồng thời phải tư duy tích cực, khẩn trương: Liên hệ những kiến thức đang nghe với kiến thức đã học để tìm ra mối liên hệ.
  5. 5 - Ghi chép bài giảng theo ý hiểu của mình, có thể dùng các ký hiệu toán học hoặc chữ viết tắt để tiết kiệm thời gian ghi chép dành thời gian cho việc nghe giảng. a.2. Năng lực đặt câu hỏi trong tự học toán Trong học tập thì việc đặt câu hỏi là thao tác thường xuyên diễn ra. Khi dạy học, giáo viên phải giúp học sinh biết cách tự mình đặt câu hỏi, yêu cầu học sinh phải tự mình suy nghĩ, động não để tự tìm câu trả lời cho câu hỏi đó. Trong quá trình suy nghĩ để tìm câu trả lời, có thể vấn đề cần hỏi đó được giải quyết ngay, nhưng cũng có thể chưa giải quyết ngay được, lúc này học sinh cần tiếp tục suy nghĩ, đến khi bản thân cảm thấy không trả lời được thì hỏi bạn hỏi thầy. Trong lúc nghe thầy hoặc bạn trình bày, người học vẫn phải giữ vai trò chủ thể tích cực, chủ động để có thể tìm ra cho mình câu trả lời thỏa đáng nhất. a.3. Năng lực ghi nhớ các tri thức toán học 6 Ghi nhớ là thành phần cơ bản và quan trọng trong quá trình học tập nói chung và học toán nói riêng. Vì nếu không có ghi nhớ thì người học cũng chẳng thể tư duy. Để hướng dẫn học sinh cách ghi nhớ các tri thức toán học giáo viên cần: Hướng dẫn học sinh biết cách ghi nhớ bằng cách hệ thống hóa, khái quát hóa những tri thức cũ. Tìm cách so sánh, xem xét tương tự kiến thức mới với kiến thức đã học. Thường xuyên ôn tập củng cố cũng như lập các sơ đồ khái niệm, định lý, dạng toán theo cách hiểu của riêng mình. a.4. Năng lực làm việc với sách giáo khoa Giáo viên cần hướng dẫn học sinh một số quy trình đơn giản về kỹ năng đọc sách. Khi đọc sách cần rút ra được những nội dung chính của mỗi đoạn, so sánh, phân loại, hệ thống hóa, đề xuất cái mới và nêu câu hỏi. Điều này rất quan trọng vì sự sáng tạo thường nảy sinh trong quá trình đọc sách. a.5. Năng lực tự kiểm tra và đánh giá Để rèn luyện kỹ năng tự kiểm tra đánh giá cho học sinh, giáo viên cần bồi dưỡng cho các em: - Khả năng đối chiếu kết luận của thầy và các ý kiến của các bạn với kết quả của bản thân để tự điều chỉnh sửa chữa hoặc hoàn thiện kết quả của mình đã tìm được. - Khả năng đánh giá cách giải quyết vấn đề của thầy, của bạn và của mình từ đó chọn được cách giải quyết tốt nhất. - Khả năng tự rút kinh nghiệm về phương pháp học tập của mình, từ đó luôn luôn tự điều chỉnh, hoàn thiện để ngày càng tiến bộ. - Khả năng phát hiện ra những chỗ thiếu hụt về kiến thức, những sai lầm trong nhận thức, để từ đó tìm cách bổ sung, khắc phục. a.6. Năng lực tổ chức các hoạt động tự học Kỹ năng này bao gồm: Lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch, theo dõi, giám sát, đánh giá và điều chỉnh việc tự học. Chu trình tổ chức việc tự học, đánh giá thường xuyên của giáo viên và bản thân học sinh về quá trình tự học và hoàn thành kế hoạch tự học là phương tiện mạnh mẽ, để kích thích, nâng cao quá trình tự học của người học. Từ sự đánh giá này, học sinh rút ra được những bài học kinh nghiệm cho mình, dẫn tới sự điều chỉnh để lần sau thực hiện kế hoạch tự học tốt hơn. b) Các phương pháp, kĩ thuật được sử dụng. b.1. Phương pháp đàm thoại Giáo viên khéo léo đặt hệ thống câu hỏi để để trả lời nhằm gợi mở cho học sinh sáng tỏ những vấn đề mới bằng sự tái hiện những tài liệu đã học hoặc từ những kinh nghiệm đã tích lũy
  6. 6 được trong cuộc sống, nhằm giúp học củng cố, mở rộng, đào sâu, tổng kết, hệ thống hóa tri thức đã tiếp thu được nhằm mục đích kiểm tra, đánh giá và giúp học sinh tự kiểm tra, đánh giá việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kĩ xảo trong quá trình học.” Ví dụ 1: Trong bài “Ước chung và bội chung” GV yêu cầu HS nghiên cứu mục 1 trang 51 và trả lời các câu hỏi sau: Câu 1: Uớc chung của hai hay nhiều số là gì? Câu 2: Nêu kí hiệu ước chung của hai số a và b? Câu 3: Khi nào x ƯC(a,b)? Câu 4: Khi nào x ƯC(a,b,c)? Câu 5: Nêu cách tìm ƯC(a,b)? b.2. Phương pháp suy luận Giáo viên đưa ra những câu hỏi, vấn đề đòi hỏi người học phải suy nghĩ trả lời. Học sinh thì tái hiện những kiến thức đã có để giải quyết. Ví dụ 2: Trong bài “Ước chung và bội chung”, sau khi chốt kiến thức xong giáo viên quay trở lại: - Viết tập hợp các ước chung của 18 và 45 - Viết tập hợp các bội chung của 3 và 4 b.3. Phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy Vai trò của sơ đồ tư duy: giúp học sinh nắm được nội dung của bài bằng sơ đồ có màu sắc hoặc hình ảnh giúp học sinh dễ nhớ, học sinh hệ thống được các nội dung kiến thức Ưu điểm của cách ghi chép bằng sơ đồ tư duy: • Rõ ràng, mạch lạc. Dễ dạy, dễ học, dễ nhớ. • Trực quan, dễ nhìn, dễ hiểu, dễ nhớ do nó được thể hiện bởi màu sắc. • Nhìn thấy “bức tranh” tổng thể mà lại chi tiết. • Kích thích hứng thú học tập, sáng tạo của học sinh. • Giúp mở rộng ý tưởng, đào sâu kiến thức. • Giúp hệ thống, ôn tập kiến thức. • Giúp ghi nhớ nhanh, nhớ sâu, nhớ lâu kiến thức. Sơ đồ tư duy có rất nhiều ưu điểm cho việc học, tự học. Tuy nhiên, chỉ khi nào các em tự mình thiết lập sơ đồ tư duy và sử dụng nó trong học tập thì mới phát huy hiệu quả của nó. Do đó giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách vẽ sơ đồ tư duy để tóm tắt nội dung bài, chương, quyển sách, ghi chép, ghi nhớ, tự học ở nhà. Ví dụ 3: Trong bài “Ước chung và bội chung” trong phần hướng dẫn về nhà, giáo viên yêu cầu học sinh hệ thống lại nội dung kiến thức của bài bằng sơ đồ tư duy.
  7. 7 2.1.2. Phát huy năng lực tự học theo nhóm a) Phương pháp dạy học theo nhóm nhiều học sinh Dạy học theo nhóm nhiều học sinh là hình thức giảng dạy đặt học sinh vào môi trường học tập tích cực, trong đó học sinh được tổ chức thành nhóm một cách thích hợp. Việc rèn cho các em các kỹ năng học hợp tác nhóm là hết sức cần thiết, tạo điều kiện để các em có nhiều cơ hội giao lưu, học hỏi lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau, góp phần vào việc giáo dục toàn diện nhân cách cho học sinh. b) Các phương pháp, kĩ thuật được sử dụng. b.1. Kĩ thuật khăn trải bàn Tổ chức hoạt động học mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm. Các thành viên có thời gian làm việc cá nhân, sau đó các thành viên chia sẻ, thảo luận và thống nhất các câu trả lời Việc tổ chức hoạt động học theo kĩ thuật khăn trải bàn giúp: • Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực của các thành viên trong nhóm. • Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân học sinh. • Phát triển mô hình có sự tương tác giữa học sinh với học sinh . Ví dụ 1: Trong bài “Ước chung và bội chung” trong phần củng cố giáo viên cho học sinh hoạt động nhóm theo kĩ thuật khăn trải bàn làm bài 134 – Trang 53 Bài 134 – Trang 53: Điền kí hiệu hoặc vào ô vuông cho đúng: a) 4 ƯC (12,18) b) 6 ƯC (12,18) c) 2 ƯC (4,6,8) d) 4 ƯC (4,6,8) e) 80 BC (20,30) g) 60 BC (20,30) h) 12 BC (4,6,8) i) 24 BC (4,6,8) b.2. Kĩ thuật mảnh ghép 1 2 3 1 2 3 1 2 3 Sơ đồ “kĩ thuật mảnh ghép” 1 3 1 2 2 3 1 2 3 Cách thực hiện: Vòng 1: “Nhóm chuyên gia”
  8. 8 •Lớp học chia thành các nhóm (khoảng 3 – 6 người). Mỗi nhóm được giao nhiệm vụ khác nhau. •Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng thời gian vài phút, suy nghĩ về câu hỏi, chủ đề và ghi lại những ý kiến của mình •Khi thảo luận nhóm đảm bảo mỗi thành viên trong nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao và trở thành “chuyên gia” của lĩnh vực đã tìm hiểu và có khả năng trình bày lại câu trả lời của nhóm ở vòng 2. Vòng 2: “Nhóm mảnh ghép” • Hình thành nhóm 3 – 6 người mới (bao gồm 1 – 2 người nhóm hình tròn, hình chữ nhật, hình tam giác). Gọi là “nhóm mảnh ghép” •Các câu hỏi và câu trả lời ở vòng một được các thành viên trong nhóm 1 chia sẻ đầy đủ với nhau •Khi các thành viên trong nhóm mới hiểu hết được tất cả nội dung ở vòng 1 thì nhiệm vụ mới sẽ được giao cho các nhóm giải quyết (lưu ý nhiệm vụ mới phải gắn liền với kiến thức thu được ở vòng 1) Ví dụ 2: Trong bài “Thứ tự thực hiện các phép tính” giáo viên cho học sinh hoạt động nhóm làm phần 2 theo kĩ thuật mảnh ghép Giáo viên giao nhiệm vụ cho 3 nhóm: điền vào chỗ chấm - Nhóm 1: Nếu trong biểu thức chỉ có các phép tính cộng, trừ (hoặc chỉ có các phép tính nhân, chia) thì ta thực hiện các phép tính đó theo thứ tự .. Ví dụ: tính 60 + 20 – 5 = . 49 : 7 x 5 = ..... - Nhóm 2: Nếu trong biểu thức có phép tính cộng, trừ, nhân, chia, nâng lên lũy thừa thì ta thực hiện các phép tính theo thứ tự Ví dụ: tính 4.33 - 5.6 = - Nhóm 3: Khi tính giá trị của biểu thức có dấu ngoặc (), [], {} thì trước tiên ta thực hiện phép tính trong Ví dụ: {[(30 + 5) : 5 +2]-3}.2= . b.3. Kỹ thuật chia sẻ nhóm theo cặp hai học sinh Thực hiện kỹ thuật này: Giáo viên giới thiệu vấn đề, dành thời gian cho học sinh suy nghĩ. Sau đó học sinh thành lập nhóm đôi và chia sẻ ý tưởng, thảo luận, phân loại. Nhóm đôi này lại chia sẻ tiếp với nhóm đôi khác hoặc với cả lớp.
  9. 9 Ví dụ 3: Trong bài “Thứ tự thực hiện các phép tính” giáo viên cho học sinh hoạt động cặp đôi làm ?1, ?2 ?1 Tính a) 62 : 4. 3 + 2. 52 b) 2. (5. 42 – 18) ?2. Tìm số tự nhiên x biết a) (6x-39):3=201 b) 23 + 3x = 56:53 b.4. Phương pháp trò chơi Sử dụng trò chơi học tập là dạy học thông qua việc tổ chức hoạt động cho học sinh. Dưới sự hướng dẫn của GV, HS được hoạt động bằng cách tự chơi trò chơi trong đó mục đích của trò chơi chuyển tải mục tiêu của bài học. Luật chơi (cách chơi) thể hiện nội dung và phương pháp học, đặc biệt là phương pháp học tập có sự hợp tác và sự tự đánh giá. Sử dụng trò chơi trong học tập để hình thành kiến thức, kĩ năng mới hoặc củng cố kiến thức Ví dụ 4: Trong bài “Ước chung và bội chung” giáo viên cho học sinh chơi trò chơi “Ai nhanh hơn” để củng cố nội dung kiến thức của bài: GV chia lớp thành 3 đội, mỗi đội cử 6 thành viên lên chơi theo thứ tự từ 1 đến 6, mỗi đội sẽ có thời gian thảo luận trong 3 phút sau đó lần lượt các thành viên trong đội lên làm lần lượt các yêu cầu từ 1 đến 6. Người lên sau được phép sửa bài làm của người lên trước. Đội nào nhanh hơn và chính xác thì đội đó giành chiến thắng. Bài tập: Điền vào chỗ chấm 1) Ư(8) = { } 2) Ư(6) = { ..} 3) ƯC(8,6) = { ...} 4) B(2) = { ..} 5) B(3) = { } 6) BC(2,3) = { .} 2.2. Phát huy năng lực tự học cho học sinh ở nhà Tự học có và trò vô cùng quan trọng giúp học sinh phát huy tính tích cực tự giác, phát huy năng lực đọc. Việc tự học khi ở nhà còn củng cố lại những kiến thức đã được học trên lớp, hoàn thành các bài tập và chuẩn bị bài mới. Để hoàn thành tốt các nhiệm vụ học tập đó, giáo viên cần hình thành cho học sinh một số kĩ năng để phát huy năng lực tự học như: lập kế hoạch học tập, kĩ năng đọc sách, kĩ năng ghi chép, kĩ năng học bài nhanh, kĩ năng chủ động khi tự học. 2.2.1. Kĩ năng xây dựng kế hoạch và thời gian biểu tự học hợp lý Việc xây dựng kế hoạch và thời gian biểu tự học hợp lý kế hoạch giúp học sinh làm chủ và tránh lãng phí thời gian, nâng cao hiệu quả học để hoàn thành mục tiêu học tập
  10. 10 tốt. Mỗi học sinh có thể phân chia thời gian biểu khác nhau tùy thuộc vào điều kiện của mỗi học sinh. Dưới đây là mẫu thời gian biểu tôi đưa ra cho các em tham khảo. Thời gian Nội dung công việc 5h30 Thức dậy 5h30-5h45 Vệ sinh cá nhân Sáng 5h45-6h Ăn sáng 6h-6h45 Xem lại nội dung bài hôm nay 6h45 – 11h45 Học ở trường Trưa 11h45 – 13h30 Ăn trưa và ngủ trưa 13h30-17h Học ở trường 17-19h30 Ăn tối Chiều 19h30 -20h Xem ti vi, giải trí và tối 20h -22h Học bài và chuẩn bị bài hôm sau 22h Đi ngủ 2.2.2. Kĩ năng đọc sách Đọc đi đọc lại nhiều lần nội dung của bài. Đọc sách một lần có thể một số em chưa hiểu nội dung. Do đó chúng ta cần đọc đi đọc lại để hiểu và nhớ được nội dung của bài - Đọc lần một: Để xem nội dung của bài là gì, chú ý đọc tiêu đề, các mục lớn. - Đọc lần hai: Hiểu sâu hơn các nội dung của bài, làm được theo sách hướng dẫn - Đọc nhiều lần hơn nữa đối với nội dung chưa nắm được Dùng bút chì (hoặc bút nhớ) gạch chân những nội dung chính trong sách mà em cho là quan trọng, đây là thông tin thiết yếu cần nhớ đầu tiên. Việc gạch chân nội dung giúp tạo cho mắt cách nhìn nhanh và nắm bắt thông tin nhanh hơn. Không đọc to, việc đọc to ảnh hưởng tới người xung quanh và ta lại không nghiền ngẫm được bài. Vì vậy việc nhớ nội dung của bài cũng giảm, máy môi khiến đọc bị chậm lại và kém hiệu quả Ví dụ 4: Trong môn Toán 6 để học sinh có thể chuẩn bị bài tốt trước khi đến lớp thì các em cần đọc đi đọc lại nhiều lần nội dung của bài mới và kết hợp với sách bài tập để hoàn thiện được các nội dung cần chuẩn bị cho bài mới. 2.2.3. Kĩ năng ghi chép Ghi chép trong khi đọc sách là việc rất cần thiết. Trong khi đọc dù người học có suy nghĩ sâu sắc, nhưng nếu suy nghĩ đó không được ghi lại, thì trước mắt, kết quả đọc sẽ không cao, sau này kết quả đó cũng khó có thể được duy trì trong trí nhớ. Vì vậy, ghi chép có một ý nghĩa rất quan trọng.
  11. 11 Để việc ghi chép đạt hiệu quả thì mỗi học sinh cần xác định: Ghi ở đâu để dễ nhìn và dễ nhớ. Học sinh có thể ghi chép vào các quyển vở mà em yêu thích (gọi là Sổ tay ghi nhớ), khi cầm học sinh có cảm giác thích thú ban đầu. Làm sao ghi chép nhanh và đủ nội dung (khuyến khích học sinh ghi chép kiến thức cần nhớ theo sơ đồ tư duy). 2.2.4. Kĩ năng học để nhớ Tự mình viết lại nội dung của bài theo sơ đồ. Tranh luận với bạn bè. Học các từ khóa và ý chính. Có thể liên tưởng hoặc gán những nội dung kiến thức với các sự kiện, tên riêng của người thân bạn bè để giúp cho chúng ta dễ nhớ. 3. Các ví dụ minh họa 3.1. Đối với bài xây dựng kiến thức mới: Ví dụ 1: Qua bài học “ Thứ tự thực hiện các phép tính ” học sinh cần: Bài vừa học Bài sắp học Học sinh cần nắm vững kiến thức cơ bản LUYỆN TẬP sau: - Hướng dẫn học sinh làm một số bài tập: a) Đối với biểu thức không có ngoặc: 73, 74, 75, 76 sgk trang 32 - Chỉ có phép cộng và phép trừ hoặc chỉ có - GV hướng dẫn cách thực hiện cho từng phép nhân và phép chia bài tập qua những câu hỏi gợi ý + Thực hiện theo thứ tự như thế nào? Thứ + Bài 73 sgk/32: Thực hiện bài toán nào tự thực hiện từ trái sang phải trước? - Biểu thức gồm các phép toán + , -, . , : và + Bài 74 sgk/32: 218 – x = ? lũy thừa (Vd: 3 .32 -15 :5 . 23 ) + Thực hiện theo thứ tự như thế nào? Thực hiện phép tính nâng lên lũy thừa trước rồi đến nhân chia cuối cùng đến cộng và trừ . b) Đối với biểu thức có dấu ngoặc: Vd: 100 :{2 .[52 – (35 – 8)]} + Thực hiện theo thứ tự như thế nào? Thực hiện từ trong ra ngoài, từ (),[],{} Ví dụ 2: Qua bài học “ Phép chia phân số ” GV có thể bồi dưỡng cho học sinh khá giỏi kiến thức cơ bản về phân số bằng các bài tập nâng cao: 4 1 7 3 1 4 3 7 Tính: a) C : . b) D . : 5 3 5 4 5 7 5 5
  12. 12 Gợi ý câu a GV:Yêu cầu học sinh nêu thứ tự thực hiện phép toán HS: Thực hiện trong ngoặc trước. GV: Trong dấu ngoặc là phép toán gì? Cách thực hiện của chúng ra sao? 4 1 7 4 7 HS: trả lời C : . : 5 3 5 5 35 GV: Trong quá trình thực hiện các phép tính ta cũng cần chú ý đến việc rút gọn để giúp cho bài toán trở nên dễ tính hơn. GV: Để thực hiện phép chia hai phân số ta làm như thế nào ? 4 1 7 4 7 4 1 4 HS: trả lời C : . : : .( 5) 4 5 3 5 5 35 5 5 5 Gợi ý câu b. GV: Yêu cầu học sinh nêu thứ tự thực hiện phép toán ? HS: Thực hiện trong ngoặc trước. GV: Hãy cho biết thứ tự ưu tiên cho dấu ngoặc nào trước ? GV: Trong dấu ngoặc gồm những phép toán nào ? Thứ tự thực hiện của chúng ra sao ? 3 1 4 3 7 3 1 4 3 5 3 1 4 3 3 1 1 HS: trả lời. D . : . . . . 4 5 7 5 5 4 5 7 5 7 4 5 7 7 4 5 7 GV: Để cộng phân số không cùng mẫu ta làm như thế nào ? HS: Ta quy đồng cho cùng một mẫu sau đó cộng các tử với nhau và giữ nguyên mẫu. Giải: 4 1 7 4 7 4 1 4 a) C : . : : .( 5) 4 5 3 5 5 35 5 5 5 3 1 4 3 7 3 1 4 3 5 3 1 4 3 3 1 1 3 2 3 b) D . : . . . . . 4 5 7 5 5 4 5 7 5 7 4 5 7 7 4 5 7 4 35 70 Trong quá trình giải bài toán GV cần đặt ra các câu hỏi có liên quan đến kiến thức trọng tâm của dạng toán để áp dụng giải bài tập. Các bài toán trên chúng ta đã sử dụng các kiến thức nào để giải? Để nhằm giúp HS khắc phục các kiến thức. Qua bài toán trên nhằm rèn khả năng tính toán cho HS, giúp HS nắm vững thứ tự thực hiện các phép tính trong toán đồng thời cũng rèn luyện khả năng tư duy cho các em. Đặc biệt trong quá trình hướng dẫn về nhà GV cần đặt nhiều câu hỏi gợi ý cho sinh nhằm giúp cho các em nắm vững kiến thức. 3.2. Đối với tiết luyện tập Sau khi củng cố kiến thức mới để học sinh nắm vững cách giải một số bài tập thì giáo viên hướng dẫn bài tập về nhà yêu cầu các nhóm tự kiểm tra quá trình làm bài, trình bày bài trong nhóm mình, kiểm tra theo sự phân công của GV trong giờ truy bài để trao đổi và khắc phục chỗ sai cho những bạn yếu.
  13. 13 Giáo viên tập trung bồi dưỡng cho học sinh theo các định hướng sau: 3.2.1. Bồi dưỡng năng lực định hướng đường lối giải bài toán Việc xác định đường lối giải chính xác sẽ giúp cho HS giải quyết các bài toán một cách nhanh chóng, dễ hiểu, ngắn gọn và tránh mất được thời gian. Chính vì vậy, đòi hỏi mỗi GV cần phải rèn luyện cho HS khả năng định hướng đường lối giải bài toán là điều không thể thiếu trong quá trình dạy học toán. Ví dụ 3 5 18 Tính: 0,75 24 27 3.2.2. Định hướng giải bài toán GV: Để thực hiện được phép tính trên, trước tiên chúng ta cần làm gì ? 5 18 75 HS: Đổi số thập phân ra thành phân số 24 27 100 GV: Các phân số đó đã được tối giản chưa ? 5 2 3 HS: Rút gọn phân số 24 3 4 GV: Để thực hiện phép cộng phân số không cùng mẫu ta làm như thế nào? HS: Quy đồng các phân số cùng mẫu, sau đó lấy tử cộng tử và giữ nguyên mẫu. Giải 5 18 5 18 75 5 2 3 5 16 18 39 13 0,75= = = 24 27 24 27 100 24 3 4 24 24 24 24 8 Qua bài toán này nhằm giúp cho HS nắm vững các kiến thức và làm quen dần các bước phân tích, lập luận bài toán cho HS. 3.2.3. Bồi dưỡng năng lực giải toán cho các đối tượng HS - Việc phân loại bài toán nhằm giúp cho HS nắm vững các kiến thức đã học. Qua đó cũng đánh giá được mức độ học tập của các em đồng thời cũng tăng khả năng học toán, giải toán cho các em. Từ đó GV có thể xây dựng kế hoạch dạy học một cách hợp lí nhằm đem lại hiệu quả học tập cho HS một cách tốt nhất. Học sinh yếu 1 7 1 5 Ví dụ 4. Cộng các phân số sau: a) b) 3 3 6 12 Giải: Do đối tượng là HS yếu nên khi giải bài toán cần đặt nhiều câu hỏi gợi mở ở mức độ dễ và xác với yêu cầu câu hỏi. GV: Em có nhận xét gì về mẫu của 2 phân số ( câu a ) HS: Có cùng mẫu ( cùng số ) nhưng chỉ khác nhau về dấu. GV: Vậy để thực hiện phép cộng 2 phân số đó ta làm như thế nào ?
  14. 14 HS: Biến mẫu âm thành mẫu dương ( phân số thứ 2 ) sau đó áp dụng quy tắc cộng 2 phân số cùng mẫu. 1 7 1 7 8 a) 3 3 3 3 3 Riêng câu b, GV có thể cho HS nhắc lại quy tắc cộng 2 phân số không cùng mẫu trước khi thực hiện. HS: nhắc lại quy tắc. GV có thể đặt thêm nhiều câu hỏi gợi ý ( các bước quy đồng mẫu ) cho HS. 1 5 2 5 3 1 b) 6 12 12 12 12 4 Qua những bài toán như thế này nhằm giúp cho HS nắm lại các kiến cơ bản đặt biệt là những HS yếu kém nên GV cần thường xuyên đặt nhiều câu hỏi gợi ý, từ đó HS mới có thể giải được những bài toán cao hơn. - Học sinh trung bình 1 6 x 1 3 Ví dụ 5. Tìm x biết a) x b) 5 7 2 3 4 Gợi ý GV: Để tìm giá trị của x ta làm như thế nào ? 1 6 HS: Chỉ cần tính tổng của . 5 7 GV: Để tính tổng trên ta làm như thế nào ? HS: Quy đồng cùng mẫu, sau đó lấy tử cộng tử và giữ nguyên mẫu. Giải: 1 6 7 30 23 a) x x x 5 7 35 35 35 Đối với HS trung bình đặt các câu hỏi dễ hiểu, gợi ý các chi tiết rõ ràng để các em dễ nắm được cách giải nội dung bài tập một cách hợp lí hơn. Câu b tương tự như câu a. x 1 3 x 4 9 x 5 5 b) x 2 3 4 2 12 12 2 12 6 Qua bài toán này nhằm giúp cho HS vận dụng được các kiến thức cộng 2 phân số và tùy thuộc vào đối tượng giáo viên có thể đặt câu hỏi gợi ý thêm cho HS. 3.2.4. Bồi dưỡng năng lực phân tích, tổng hợp và so sánh: Nhằm giúp HS từng bước tăng khả năng tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận và sáng tạo trong giải toán. 2 Ví dụ 6. Một người mang bán một sọt cam. Sau khi bán số cam và 1 quả thì số 5 cam còn lại là 50 quả. Tính số cam mang bán. 3.2.5. Phân tích bài toán ( Vẽ sơ đồ đoạn thẳng )
  15. 15 1 quả 2 số cam 50 quả 5 GV: Dựa vào sơ đồ thì số sọt cam được chia làm mấy phần ? HS: 5 phần bằng nhau. 2 GV: Sau khi bán hết số cam trong sọt thì số cam trong sọt còn lại bao nhiêu quả và 5 3 chiếm bao nhiêu phần Cam trong sọt ? HS: 51 quả chiếm số cam trong sọt. 5 3 GV: Để biết số cam mang bán là bao nhiêu ta làm như thế nào ? HS: là 51: 5 Giải: 3 số cam người đó có là 50 + 1 = 51 ( quả ) 5 3 Vậy số cam mang đi bán là 51 : = 85 (quả) 5 3.2.6. Ngoài ra giáo viên cũng có thể tổ chức cho học sinh tự học ở nhà bằng những hình thức khác như: Hướng dẫn cho học sinh về nhà củng cố kiến thức bằng bài tập trò chơi ô chữ Ô 1 (8 chữ cái): Tên gọi của đường viền sau là gì ? Ô 2 (10 chữ cái): Tên nhà toán học Việt nam đầu tiên nhận giải Fields ? Ô 3 (9 chữ cái): Điểm cách đều hai đầu mút của đoạn thẳng gọi là ... Ô 4 (3chữ cái): Mỗi điểm trên đường thẳng là ..... chung của hai tia đối nhau. Ô 5 (5 chữ cái): Mỗi đoạn thẳng có một ......... Ô 6 (8 chữ cái): Hai đường thẳng không có điểm chung gọi là hai đường thẳng.... Ô 7 (8 chữ cái): Hai đường thẳng không trùng nhau còn gọi là hai đường thẳng....
  16. 16 - Hướng dẫn cho học sinh về nhà củng cố kiến thức bằng sơ đồ tư duy Ví dụ 7. Sau khi học xong bài “Phép trừ phân số” của phân môn Số học 6 yêu cầu học sinh về nhà ghi nhớ kiến thức bằng sơ đồ tư duy. Mỗi em có thể củng cố bằng các sơ đồ khác nhau tùy vào hiểu biết của mình: - Hướng dẫn cho học sinh về nhà vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống thực tiễn.
  17. 17 Ví dụ 8. Tình huống thực tiễn dùng kiến thức liên môn toán học và vật lí để giải quyết. + Tình huống 1: Để gánh hai đầu vật nặng đi + Tình huống 2: Để bập bênh thăng lại dễ dàng có liên quan đến những tác động bằng thì lưu ý đến những yếu tố nào nào dưới góc độ toán học và vật lý? dưới góc độ toán học và vật lý? Cả hai tình huống đều được vận dùng các kiến thức toán (Trung điểm của đoạn thẳng) và kiến thức môn vật lý (Trọng lực, Đòn bẩy) 3.2.7. Hướng dẫn HS hoạt động nhóm: Những vấn đề giáo viên cần lưu ý: • Từ nhóm 4 em trở lên, phải cử 1 nhóm trưởng (HS khá - giỏi, có uy tín) và một thư ký (HS viết rõ ràng nhanh nhẹn). Có thể yêu cầu một vài học sinh trả lời cá nhân mình làm gì và cả nhóm sẽ làm. • Trong thời gian đầu, GV hướng dẫn cụ thể cho các nhóm hoạt động ( tập huấn cho nhóm trưởng và thư ký). Có nhận xét, điều chỉnh bổ sung cách làm của từng nhóm và rút kinh nghiệm chung. Chú ý động viên khích lệ. • Khi tiến hành hoạt động nhóm, GV phải điều chỉnh tư thế ngồi cho các em để đảm bảo sự phát triển về thể chất khắc phục cách ngồi quay về sau, quẹo người về sau mà chân vẫn giữ như cũ. Khi ra hoạt động ngoài trời phải đảm bảo an toàn, trật tự. Giám sát hoạt động chung của tất cả các nhóm của lớp (có thể bằng ánh mắt cử chỉ ). • Phải thường xuyên chú ý HS yếu kém và biện pháp giúp đỡ để các em cùng tham gia giải quyết nhiệm vụ của nhóm. • Chọn những vấn đề, bài tập thích hợp (không quá khó, cũng không quá dễ). • Đánh giá, cho điểm, động viên và tuyên dương kịp thời cá nhân, tập thể (chú ý HS yếu). • Khi điều khiển học sinh trình bày kết quả nhóm giáo viên cần tạo điều kiện để các nhóm tự đánh giá, góp ý, để phát triển tư duy độc lập cho học sinh. Giao nhiệm vụ cuối tuần cho HS dưới dạng phiếu bài tập kích thích các giác quan và tư duy cho học sinh.
  18. 18 Ví dụ 9. Một phiếu bài tập theo bài. § 6: So sánh phân số > = < CÙNG TỬ SỐ CÙNG MẪU SỐ 3 3 3 4 (tử dương, mẫu dương) (tử dương, mẫu dương) 4 6 5 5 2 2 2 5 (tử âm, mẫu dương) (tử âm, mẫu dương) 5 7 7 7 5 5 5 7 (so sánh với số 0) (so sánh với số 0) 9 17 9 9 12 4 3 2 5 10 3.4 12 2.5 10 . . 20 4 5 4 5 10 3 2 3 2 5 4 vì khi ta đưa về phân số cùng mẫu là 5 4 3 2 12 > 10 nên 20, ta thấy tử số 12 > 10 5 4 Ví dụ 10. So sánh hai phân số bằng cách quy đồng mẫu: 1 4 3 1 5 3 4 3 5 3 4 11 3 6 5 5 7 3 11 13 4 6 7 13 5 4 7 5 63 6 4 3 9 7 35 8 6 70 63 9 13 3 8 42 35 70 13 42 Ví dụ 11. So sánh hai phân số bằng cách quy đồng tử 3 17 4 3 6 4 17 51 21 4 3 9 4 7 6 21 31 51 9 13 3 7 31 13
  19. 19 Ví dụ 12. So sánh hai phân số bằng cách dùng phần bù (hoặc phần hơn) so với 1 26 96 27 97 64 45 65 47 2017 2019 2016 2018 198 199 199 200 Ví dụ 13. So sánh hai phân số bằng cách dùng số trung gian 16 15 19 17 311 199 256 203 19 31 60 90 419 679 723 313
  20. 20 Ví dụ 14. Điền số thích hợp vào chỗ trống 11 ... ... 8 a) 13 13 13 13 1 ... ... 2 b) . 2 9 18 3 4. Đánh giá đề tài Trong đầu năm học khi chưa tiếp cận với cách tự học ở chương trình Toán lớp 6, bước đầu số học sinh đạt kết quả không như mong muốn. Nhưng khi đã được hướng dẫn các em cách tự học đối với bộ môn Toán 6, chất lượng học tập bộ môn Toán của các em được nâng lên rõ rệt, hình thành cho các em khả năng quan sát, nhận xét, phán đoán tốt hơn trong quá trình học tập, điều quan trọng làm tôi thấy phấn khởi là tinh thần học tập của các em đối với bộ môn Toán 6 được nâng lên rất cao, các em không còn thái độ thờ ơ xem nhẹ môn học này. Về chất lượng bài kiểm tra giữa kì I và giữa kì II bộ môn Toán 6 của lớp 6.4 trường THCS Trần Đại Nghĩa đạt được kết quả qua trước và sau khi áp dụng đề tài như sau : • Trước khi áp dụng TB trở Kém Yếu TB Khá Giỏi Dưới TB Tổng bài lên kiểm tra 0 đến 3.5 3.5 đến 5 5 đến 6.5 6.5 đến 8 8 đến 10 5 đến 10 0 đến 5 SL TL% SL TL% SL TL% SL TL% SL TL% SL TL% SL TL% SL TL% 38 100 7 18.4 4 10.6 7 18.4 10 26.3 10 26.3 27 71 11 29 • Sau khi áp dụng TB trở Kém Yếu TB Khá Giỏi Dưới TB Tổng bài lên kiểm tra 0 đến 3.5 3.5 đến 5 5 đến 6.5 6.5 đến 8 8 đến 10 5 đến 10 0 đến 5 SL TL% SL TL% SL TL% SL TL% SL TL% SL TL% SL TL% SL TL% 38 100 1 2.6 1 2.6 12 31.7 7 18.4 17 44.7 36 94.8 2 5.2 Trên đây là bảng thống kê so sánh kết quả về chất lượng bộ môn Toán ở lớp 6.4 trường THCS Trần Đại Nghĩa, qua kết quả đạt được tôi rất phấn khởi vì chất lượng học tập của các em đều có chiều hướng tăng nhanh đáng kể, điều này thể hiện bước đầu tôi đã thực hiện thành công việc nâng cao hiệu quả dạy học bằng việc phát huy năng lực tự học của học sinh trong môn Toán 6.