Sáng kiến kinh nghiệm Giải pháp chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số tại Trường Mầm non Hoa Lan, huyện Khánh Vĩnh

docx 15 trang vantien 24/09/2025 2270
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Giải pháp chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số tại Trường Mầm non Hoa Lan, huyện Khánh Vĩnh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_giai_phap_chi_dao_giao_vien_nang_cao_c.docx

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Giải pháp chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số tại Trường Mầm non Hoa Lan, huyện Khánh Vĩnh

  1. I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Sự cần thiết của sáng kiến Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ tiếng Việt là thứ công cụ thiết yếu để trẻ có thể giao tiếp, liên hệ với người khác qua giao lưu, trao đổi ngôn ngữ tiếng Việt với nhau, để diễn đạt ý kiến, bày tỏ tình cảm của mình. Ngôn ngữ tiếng Việt còn là công cụ, là sản phẩm của hoạt động trí óc khi suy nghĩ, tưởng tượng, sáng tạo. Ngôn ngữ tiếng Việt càng phong phú thì việc trẻ em dân tộc thiểu số hoà nhập với cuộc sống xã hội cũng như việc học hành, nghiên cứu diễn ra càng thuận lợi hơn. Việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt để trao đổi được thực hiện trong suốt quá trình học tập và đời sống sinh hoạt hàng ngày. Từ ngữ tiếng Việt giúp cho việc củng cố những biểu tượng đã được hình thành. Tuổi mầm non là lứa tuổi mà trẻ mới bắt đầu học nói, chính vì vậy việc cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ đặc biệt là trẻ em dân tộc thiểu số là vô cùng quan trọng, bởi vì các cháu dân tộc thiểu số thường hay dùng tiếng mẹ đẻ, khó khăn trong việc tiếp nhận tiếng Việt, dẫn đến cháu khó tiếp thu lời nói của cô giáo bằng ngôn ngữ tiếng Việt, hay còn gọi cách khác là tiếng phổ thông. Giáo viên mầm non là nhân tố quyết định chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ, nhiệm vụ năm học 2022- 2023 của ngành học mầm non là tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình giáo dục mầm non, tổ chức các hoạt động cho trẻ theo hướng lấy trẻ làm trung tâm, đặc biệt quan tâm việc tổ chức các hoạt động tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số tại trường đạt chất lượng, hiệu quả. Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài: “Giải pháp chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số tại Trường Mầm non Hoa Lan, huyện Khánh Vĩnh” làm nghiên cứu của mình. 2. Mục tiêu nghiên cứu Giúp giáo viên nâng cao chất lượng về tổ chức các hoạt động tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số tại nhóm, lớp mình phụ trách.
  2. Tìm hiểu và nghiên cứu thực trạng, những hạn chế, nguyên nhân về việc tổ chức các hoạt động tăng cường tiếng Việt hàng ngày của giáo viên. Từ đó giúp giáo viên biết áp dụng phù hợp vào việc tổ chức hoạt động tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng của vấn đề cần giải quyết Trường Mầm non Hoa Lan nằm tại thôn Chà Liên- xã Liên Sang- huyện Khánh Vĩnh cách trung tâm Thị trấn Khánh Vĩnh 14 km về phía tây, năm học 2022- 2023 trường có 7 nhóm, lớp gồm: 02 nhóm trẻ 25- 36 tháng tuổi: 36 cháu dân tộc, 02 lớp Mẫu giáo 3-4 tuổi: 34 cháu dân tộc, 02 lớp Mẫu giáo 4-5 tuổi: 44 cháu dân tộc, 01 lớp Mẫu giáo 5-6 tuổi: 38 cháu dân tộc. Tổng toàn trường có 153/173 cháu dân tộc, trong đó trẻ dân tộc thiểu số từ 3- 5 tuổi: 117 cháu. Đa số trẻ trong trường là trẻ em người đồng bào dân tộc thiểu số, chiếm trên 88% trong tổng số trẻ toàn trường, trong đó khoảng 21% trẻ mới ra lớp và bắt đầu tiếp xúc với tiếng Việt, khả năng nói tiếng Việt chưa thành thạo, không rõ câu, từ. 1.1. Thuận lợi Bản thân luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình về công tác chỉ đạo chuyên môn của bộ phận chuyên môn mầm non Phòng Giáo dục và Đào tạo Khánh Vĩnh. Nhà trường có đầy đủ hồ sơ thực hiện Giai đoạn 2 đề án “Tăng cường chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ mầm non và học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020, định hướng 2025” trên cơ sở tiếng mẹ đẻ của trẻ tại Trường Mầm non Hoa Lan và của năm học 2022-2023. Một số giáo viên đã có chứng chỉ về nghe, nói tiếng Raglai, có thể dùng tiếng mẹ đẻ của trẻ để giao tiếp với trẻ trong quá trình tổ chức hoạt động dạy tăng cường tiếng Việt. Nhà trường đã tiến hành tập huấn, bồi dưỡng cho giáo viên mầm non về thực hiện tăng cường tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số dựa trên cơ sở tiếng mẹ đẻ trong trường mầm non.
  3. Đơn vị trường đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo tặng Bằng khen về xây dựng và tổ chức tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non giai đoạn 2016- 2020. 1.2. Khó khăn Một số giáo viên chưa nắm bắt các nội dung triển khai của nhà trường về việc tổ các hoạt động tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số tại trường. Việc tạo môi trường tăng cường tiếng Việt trong và ngoài lớp còn hạn chế, chưa được phong phú. Nhà trường gặp khó khăn trong việc tìm, sưu tầm tranh/ảnh, sách tranh truyện bằng tiếng Việt và tiếng mẹ đẻ của trẻ từ các dân tộc khác nhau theo vùng miền, dân tộc, vần, hò vè của địa phương. Một số giáo viên tổ chức các hoạt động tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn. Việc phối hợp giữa gia đình trẻ với giáo viên chưa có sự thống nhất, trẻ đến lớp cô dạy giao tiếp bằng tiếng Việt, về nhà phụ huynh cho trẻ sử dụng bằng tiếng mẹ đẻ nên đã làm ảnh hưởng đến chất lượng trong việc tăng cường tiếng Việt đối với trẻ và nhà trường chưa có các kênh truyền thông hoạt động thường xuyên có sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt (đài phát thanh, truyền hình). 1.3. Kết quả khảo sát giáo viên trước khi thực hiện sáng kiến Kết quả khảo sát Tổng số Stt Tiêu chí giáo viên Tốt Khá TB Yếu Giáo viên nắm bắt việc triển trai các văn bản, 4 7 4 1 nội dung tổ chức các hoạt động tăng cường 14 (28,6% (50%) (28,6% tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số. Giáo viên nhận thức được tầm quan trọng 4 6 4 2 của công tác tăng cường tiếng Việt cho trẻ 14 (28,6% (42,9%) (28,6% dân tộc thiểu số.
  4. 1.4. Kết quả khảo sát trẻ trước khi thực hiện sáng kiến Kết quả khảo sát Stt Tiêu chí Tổng số trẻ Đạt Chưa đạt Số lượng % Số lượng % 1 Trẻ nói thành thạo tiếng việt. 117 40 34,2% 77 65,8% Trẻ nghe và hiểu một số yêu cầu 2 của một số nội dung hoạt động 117 45 38,5% 72 61,5% tăng cường tiếng Việt. Trẻ biết giao tiếp và diễn đạt mạch 3 117 47 40,2% 70 59,8% lạc một số câu từ tiếng Việt. Trẻ tự tin giao tiếp với bạn, mạnh 4 dạn trao đổi trò chuyện cùng cô 117 43 36,8% 74 63,2% bằng từ tiếng Việt. 2. Nội dung nghiên cứu/giải pháp thay thế Từ những thực trạng nêu trên, để giúp trẻ người dân tộc thiểu số thành thạo hơn về tiếng Việt, tham gia tích cực hơn vào các hoạt động tăng cường tiếng Việt tại lớp, cũng như việc chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ trước khi bước vào học các lớp tiếp theo, tôi mạnh dạn đưa ra các giải pháp như sau: 2.1. Giải pháp 1: Triển khai các nội dung về nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số. Bằng tâm huyết với nghề, bằng tình yêu thương với trẻ và với trách nhiệm, kiến thức của mình, tôi đã chỉ đạo các giáo viên tổ chức các hoạt động tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số một cách linh hoạt, sáng tạo. Giáo viên phải biết lắng nghe, tiếp thu và biết tự mình tạo ra những cái mới, những phương pháp mới để giúp trẻ học tốt tiếng
  5. Việt hơn, có kỹ năng cơ bản trong việc giao tiếp bằng tiếng Việt. Để giúp giáo viên nắm vững hơn về kiến thức tổ chức các hoạt động tăng cường tiếng Việt cho trẻ, tôi đã tiến hành tổ chức lớp tập huấn về tăng cường tiếng Việt cho tất cả giáo viên cùng tham gia. Tôi đã triển khai các văn bản của các cấp về thực hiện tăng cường tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số dựa trên cơ sở tiếng mẹ đẻ đến tất cả giáo viên trong toàn trường: Quyết định số 5006/QĐ-BGDĐT ngày 31/12/2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Kế hoạch Giai đoạn 2 Đề án “Tăng cường chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ mầm non và học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020, định hướng 2025” trên cơ sở tiếng mẹ đẻ của trẻ; Công văn số 6087/KH-UBND ngày 05/7/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa về thực hiện Giai đoạn 2 Đề án “Tăng cường chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ mầm non và học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016- 2020, định hướng 2025” trên cơ sở tiếng mẹ đẻ của trẻ trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa; Kế hoạch số 2388/KH-UBND ngày 12 tháng 8 năm 2022 của Ủy ban nhân dân huyện Khánh Vĩnh về việc Thực hiện Giai đoạn 2 Đề án “Tăng cường chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ mầm non và học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020, định hướng 2025” trên cơ sở tiếng mẹ đẻ của trẻ trên địa bàn huyện Khánh Vĩnh; Công văn số 661/PGDĐT- MN, ngày 14/11/2022 của Phòng Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn tăng cường tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số trong các trường mầm non. Triển khai đến giáo viên nội dung xây dựng mục tiêu, nội dung kế hoạch, hoạt động, lựa chọn hình thức tổ chức các hoạt động cho trẻ làm quen với tiếng Việt phù hợp. Khi xác định các mục tiêu, nội dung cần căn cứ vào thực tế, số lượng trẻ còn hạn chế tiếng Việt để xây dựng phù hợp với đối tượng. Giáo viên khi xây dựng và tổ chức các hoạt động tăng cường tiếng Việt cần dựa trên bảng tiêu chí “Xây dựng môi trường tăng cường tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số dựa trên tiếng mẹ đẻ và văn hóa địa phương”. Triển khai đến giáo viên về cách thiết kế các hoạt động lồng ghép tăng cường tiếng Việt sáng tạo, dễ hiểu và bên cạnh đó cần biết cách xây dựng môi trường tăng cường tiếng
  6. Việt trong và ngoài lớp, đảm bảo phong phú, phù hợp giúp trẻ trải nghiệm, khám phá mở rộng hiểu biết kiến thức nâng cao chất lượng dạy và học. Cuối buổi cập huấn, tôi đã cho tất cả giáo viên cùng nhau thảo luận, đưa ra những câu hỏi, nội dung mình chưa hiểu để cùng nhau giải đáp. Qua đó, giúp giáo viên có hứng thú, tích cực tham gia vào buổi tập huấn, nắm vững hơn các kiến thức về tổ chức hoạt động tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số tại nhóm, lớp mình phụ trách. (Hình 1: Hình ảnh tập huấn, triển khai hoạt động tăng cường tiếng Việt cho giáo viên). 2.2. Giải pháp 2: Chỉ đạo giáo viên thực hiện xây dựng môi trường tiếng Việt trong và ngoài lớp học Trang trí môi trường lớp học tăng cường tiếng Việt nhằm tạo ra môi trường học tập thân thiện, gần gũi, tích cực cho trẻ cũng là một trong những giải pháp nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số. Tạo cho trẻ có thói quen và có trách nhiệm với các hoạt động của lớp. Phát huy khả năng tương tác giữa giáo viên với trẻ và trẻ với trẻ. Giúp trẻ sáng tạo, tự tin hơn, biết tự hào về bản thân và những gì mình đạt được qua những sản phẩm học tập được trưng bày trong và ngoài lớp học. Là người cán bộ quản lý, phụ trách công tác chuyên môn, tôi đã tiến hành chỉ đạo, hỗ trợ giáo viên xây dựng môi trường tăng cường tiếng Việt trong và ngoài lớp như sau: * Môi trường trong lớp Môi trường hoạt động trong lớp học là nơi trẻ thỏa mãn các sở thích, nhu cầu vui chơi, nhận thức và cảm nhận về thế giới xung quanh, hoạt động trong lớp giúp trẻ rèn luyện, củng cố kiến thức đã học, là nơi trẻ được trải nghiệm, khám phá những cái mới lạ và phát huy khả năng sáng tạo của trẻ. Môi trường giáo dục được xây dựng phù hợp với nội dung giáo dục của từng độ tuổi, từng chủ đề phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu, nội dung giáo dục nói chung và nội dung dạy tăng cường tiếng Việt nói riêng của các lớp. Môi trường của các nhóm, lớp phải tạo cho trẻ có nhiều cơ hội học tập và được hoạt động với môi trường tiếng Việt cụ thể: Đối với góc chủ đề tôi chỉ đạo giáo viên cần linh hoạt lựa chọn hình ảnh phù hợp với từng chủ đề trong năm học và hình ảnh đó cần phải rõ ràng, đảm bảo thẩm mỹ, dưới
  7. mỗi hình ảnh cần có từ gắn liền, phía trên chủ đề giáo viên trang trí chữ tiếng Việt, bên dưới thì trang trí chữ Raglai để trẻ dễ nhận biết và hiểu chữ tiếng Việt hơn. Bên cạnh đó giáo viên khuyến khích trẻ cùng cô trang trí góc chủ đề với cô khi được tham gia tôi thấy trẻ rất thích thú và phấn khởi khi được tham gia thực hiện, trẻ tự tin, mạnh dạn hơn trong quá trình tiếp xúc với các đồ dùng quen thuộc có những biểu tượng phong phú về chữ viết tiếng Việt. (Hình 2: Hình ảnh các góc chủ đề tăng cường tiếng Việt) Bên cạnh việc trang trí góc chủ đề tôi chỉ đạo giáo viên thực hiện trang trí các góc lớp với hình ảnh bắt mắt, trang trí bằng các nguyên vật liệu mở để kích thích trẻ tham gia, với những góc lớp trẻ được tiếp xúc thường xuyên thì giáo viên gắn các chữ cái phù hợp với chủ đề vào các hoạt động, chế độ sinh hoạt hằng ngày của trẻ. Giáo viên thường xuyên bổ sung, thay thế các vật liệu, các chữ cái phù hợp với chủ đề. Ví dụ: Góc âm nhạc, góc xây dựng bên cạnh trang trí hình ảnh giáo viên trang trí thêm các chữ cái, tên góc là chữ tiếng Việt và chữ Raglai, ở các kệ để đồ dùng tôi cũng chỉ đạo giáo viên viết chữ tiếng Việt và chữ Raglai qua đó giúp trẻ được tăng cường tiếng Việt đồng thời giữ được tiếng của dân tộc mình. Trẻ đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu tiếp xúc ngôn ngữ bằng hình ảnh, đó là phương tiện trực quan sinh động, hấp dẫn nhất nhằm cung cấp vốn hiểu biết cho trẻ. Chính vì đặc điểm này mà tôi chỉ đạo giáo viên cần tăng cường sử dụng hình ảnh trong việc cung cấp vốn từ, chữ cái tiếng Việt cho trẻ (Hình 3: Hình ảnh các góc trang trí chữ tiếng Việt và Raglai) * Môi trường ngoài lớp học Xây dựng môi trường tăng cường tiếng Việt ngoài lớp học là giúp trẻ hòa mình với thiên nhiên đến với môi trường ngoài lớp học trẻ được cùng nhau chơi, cùng nhau khám phá, học tập do đó việc tạo môi trường là rất cần thiết nhất là tạo môi trường tiếng Việt giúp trẻ có nhiều cơ hội để trẻ được giao tiếp cụ thể: Khi xây dựng vườn hoa, cây cảnh, vườn rau, vườn cây ăn quả ở các vị trí hợp lý, viết tên và cắm biển tên cho chúng. Thường xuyên tổ chức cho trẻ chăm sóc, khám phá trải nghiệm để mở rộng vốn từ tiếng Việt cho trẻ. Nhà vệ sinh có ghi biển hướng dẫn khu vệ
  8. sinh nam, nữ, biển cấm đi chân đất, biển hướng dẫn đi xong dội nước, rửa tay bằng xà phòng, gắn các vị trí hợp lý, dễ quan sát. Chú ý thiết kế xây dựng các góc hoạt động cho trẻ ngoài lớp học như (góc thiên nhiên, khu vận động, thể chất) tận dụng các điều kiện cơ sở vật chất sẵn có của trường, tận dụng các nguyên vật liệu sẵn có tại địa phương để giao nhiệm vụ cho trẻ, khuyến khích trẻ giao tiếp, tương tác với nhau bằng tiếng Việt. Ví dụ: Xây dựng góc thiên nhiên cho trẻ chơi với cát, nước, chăm sóc cây nên để cho trẻ chơi theo nhóm, trong quá trình trẻ chơi, giáo viên nên khuyến khích trẻ giao tiếp với nhau bằng tiếng Việt (Hình 4: Hình ảnh trang trí môi trường tăng cường tiếng Việt góc thiên nhiên, chữ cái được viết trên hòn đá) Tiếp theo, tôi chỉ đạo giáo viên cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, huy động sự quan tâm đóng góp của chính quyền địa phương, các cơ quan, các tổ chức xã hội và nhân dân trên địa bàn, tạo điều kiện để phát triển môi trường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số một cách đầy đủ và tốt nhất. Trong đó, cần quan tâm đến việc bổ sung thêm cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng, đồ chơi ngoài trời. Môi trường bên ngoài được xây dựng phù hợp thì nội dung dạy tăng cường tiếng Việt ở môi trường ngoài lớp học sẽ tạo cho trẻ có nhiều cơ hội học tập và được hoạt động một cách thoải mái và tiếp thu tiếng Việt nhanh nhất. 2.3. Giải pháp 3: Chỉ đạo giáo viên tổ chức các hoạt động tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số thông qua hoạt động trong ngày của trẻ Thực tế tại đơn vị trường tôi trong những năm gần đây, việc thực hiện dạy tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số luôn được chú trọng và có chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, chất lượng các hoạt động dạy tăng cường tiếng Việt cho trẻ đạt hiệu quả chưa cao, giáo viên trong trường có chú trọng đến nội dung các hoạt động dạy trẻ tiếng Việt, tuy nhiên cách tổ chức hoạt động tăng cường tiếng Việt còn cứng nhắc chưa thường xuyên, liên tục. Vì vậy tôi đã chỉ đạo giáo viên tổ chức các hoạt động tăng cường tiếng Việt thông qua các hoạt động trong ngày nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hơn.
  9. Trong giờ hoạt động học, tôi hướng dẫn giáo viên chú trọng đến việc dạy trẻ học tăng cường tiếng Việt, cho trẻ phát âm từ khó, giúp trẻ hiểu nghĩa từ tiếng Việt và phát âm rõ ràng hơn. Ví dụ: Hoạt động làm quen chữ cái Tôi hướng dẫn giáo viên dạy trẻ đọc đúng các từ, hiểu được nội dung của từ và biết dùng từ để diễn đạt thành câu, muốn được như vậy trước hết ta phải giúp trẻ nhận biết và phát âm đúng 29 chữ cái trong tiếng Việt. Ví dụ: Cô nói hôm nay cô cho trẻ nhận biết chữ m- n chẳng hạn: Cô cho trẻ xem tranh " Hoa mai vàng" cho trẻ đọc từ: Hoa mai vàng .Trẻ nhận biết trong từ hoa mai vàng có bao nhiêu tiếng? Có mấy chữ cái? Rồi cô ghép thẻ từ rời cho cháu nhận biết dấu thanh tìm chữ đã học rồi phát âm lại những chữ đó .Còn lại cô giới thiệu cho trẻ làm quen m- n, cô phân tích các nét cơ bản cấu tạo nên chữ cái m- n, cho trẻ phát âm chữ m- n nhiều lần giúp trẻ khắc sâu cấu tạo của chữ cái từ đó trẻ nhận biết một cách chính xác từng chữ cái. Sau khi giúp trẻ làm quen và nhận biết được 29 chữ cái trong tiếng Việt tôi tiến hành cho trẻ tham gia các trò chơi với chữ cái, cho trẻ tập tô chữ cái giúp trẻ dần dần nắm được toàn bộ hệ thống chữ cái theo qui định trong chương trình, đồng thời chính xác hoá cách phát âm. Do đặc điểm của lứa tuổi nên việc giáo dục trẻ mẫu giáo được tiến hành theo phương châm học bằng chơi, chơi mà học. Từ đó tôi luôn nghĩ cần phải phát huy hết tác dụng của các trò chơi để dạy trẻ. Điều đáng chú ý là trẻ rất ham thích được học qua hình ảnh trực quan, tổ chức hoạt động học thông qua các trò chơi (Hình 5: Hình ảnh trẻ học tăng cường tiếng Việt qua hoạt động làm quen chữ cái). Ngoài việc cho trẻ học tăng cường tiếng Việt qua hoạt động làm quen chữ cái thì tôi chỉ đạo giáo viên tổ chức cho trẻ học tiếng Việt qua các hoạt động làm quen tác phẩm văn học. Để giúp trẻ học ngôn ngữ và nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt trong học tập cũng như trong cuộc sống. Tôi nghĩ trước hết giáo viên cần dạy trẻ những kỹ năng chú ý nghe và phát âm thông qua hoạt động thơ, truyện là vô cùng cần thiết.
  10. Ví dụ: Trước khi vào dạy học thơ hay kể một câu chuyện nào đó, tôi chỉ đạo giáo viên phải chú ý lựa chọn bài thơ, câu chuyện không quá dài, có nội dung hấp dẫn trẻ để cung cấp, vì trẻ dân tộc thiểu số rất hiếu động, thời gian tập trung chú ý nghe cô giảng rất ngắn, giáo viên phải luôn tạo ra tình huống vui nhộn để lôi cuốn trẻ vào giờ học bằng giọng nói lúc trầm, lúc bổng để gây sự chú ý, khơi gợi tính tò mò của trẻ. Để tạo được tâm thế cho trẻ trước khi vào học thì giáo viên cần tiến hành giới thiệu hấp dẫn các từ ngữ tiếng Việt mang ý nghĩa hay, gần gũi, dễ hiểu đối với trẻ để lôi cuốn trẻ chăm chú lắng nghe, lĩnh hội từng câu, từng lời của cô. Sau đó giáo viên phải giảng nội dung câu chuyện, bài thơ một cách ngắn gọn để giúp trẻ dễ hiểu, giáo viên tiến hành cho trẻ đọc thơ từng câu, luôn đổi cách cho trẻ đọc thơ theo tổ, nhóm, lớp, cá nhân, hay bạn nam và bạn nữ thi đua nhằm tạo khí thế cho trẻ hứng thú học. Chính nhờ như vậy, mà trẻ ngày càng ham thích học thơ, kể chuyện bằng tiếng Việt, nhiều trẻ thuộc thơ, kể lại câu chuyện một cách hoàn chỉnh, như vậy việc cung cấp vốn từ tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số của giáo viên đã gặt hái được nhiều thành công (Hình 6: Hình ảnh học sinh tham gia học thơ, nghe kể chuyện bằng tiếng Việt) Từ tiền đề ở những hoạt động trên, tôi tiếp tục tiến hành lên kế hoạch chỉ đạo giáo viên áp dụng việc cung cấp tiếng Việt vào các hoạt động khác trong ngày như: Tích hợp các hoạt động giáo dục dưới dạng trò chơi, thi ca, hát, hò vè hướng dẫn trẻ nói tiếng Việt trong trò chuyện sáng, hoạt động vui chơi, chơi hoạt động góc, chơi ngoài trời, theo ý thích, và đặc biệt, tôi quan tâm đến việc chỉ đạo giáo viên đưa nội dung rèn luyện kỹ năng nói đúng tiếng Việt cho trẻ được làm quen ở mọi lúc mọi nơi. Ví dụ: Giáo viên tổ chức cho trẻ hoạt động chơi theo ý thích: “Nặn quả táo”. Trước khi trẻ nặn quả táo, cô gọi trẻ tự nói lên ý tưởng của mình bằng tiếng Việt, giáo viên chú ý động viên, khen ngợi trẻ kịp thời và hướng cho trẻ nói và trả lời bằng tiếng Việt rõ ràng. Lần lượt, cô gọi 2 đến 3 trẻ đứng lên tự nói và biểu đạt bằng từ tiếng Việt. Sau đó cô gợi ý, phát âm lại từ khó để trẻ cùng đọc lại. Tiếp theo, giáo viên hỏi trẻ quả táo có màu gì ? Nếu trẻ trả lời màu vàng thì giáo viên cho trẻ khác nhận xét, cô khuyến khích trẻ trả lời lại cho thật chính xác, cũng không quên động viên trẻ, tạo tâm lý thoải mái ngay cả khi trẻ biết mình trả lời sai và cuối cùng cô là người nhận xét lại kết quả đúng nhất.
  11. Ngoài ra, giáo viên có thể lựa chọn hoạt động trả trẻ để cùng trẻ trao đổi, giao tiếp bằng tiếng Việt. Trước giờ trả trẻ, tôi thường chỉ đạo giáo viên trò chuyện với trẻ “ngày hôm nay các con học những gì?”, “Buổi trưa con được ăn món gì?”, “Ai buộc tóc cho con đẹp thế?, “ Khi về nhà gặp bố mẹ con sẽ làm gì?”, “ Con chào ông, bà như thế nào?”. Tất cả những câu hỏi trên giáo viên phải cho trẻ nói và trả lời bằng tiếng Việt. Cô luôn phải là tấm gương cho trẻ học tập, ở đây mỗi động tác, lời nói cử chỉ điệu bộ của cô cũng là những bài học cho trẻ, muốn trẻ tự tin hơn trong giao tiếp tiếng Việt, cô giáo luôn phải có sự sáng tạo, tìm tòi đưa ra các cơ hội giáo dục bằng tiếng Việt cho trẻ khác nhau. Ngoài các hoạt động trên, để đạt được hiệu quả tốt hơn về khả năng nói tiếng Việt của trẻ thì tôi chỉ đạo giáo viên trong quá trình tổ chức hoạt động thì khuyến khích trẻ nói lên những điều trẻ nhìn thấy, nghe thấy, bên cạnh đó tôi khuyến khích trẻ nhìn và trả lời các câu hỏi về nội dung bài thơ, câu chuyện, đồng thời với những từ khó tôi chỉ đạo giáo viên cho trẻ nhắc lại nhiều lần từ đó giúp trẻ hiểu, tiếp thu nhanh hơn, diễn đạt tốt hơn về ngôn ngữ tiếng Việt (Hình 7: Hình ảnh dạy trẻ về cách nhìn, nghe, làm theo khi đọc chữ ở sách) 2.4. Giải pháp 4: Kết hợp với phụ huynh trong việc tổ chức các hoạt động tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số. Sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường và phụ huynh trong việc tổ chức các hoạt động tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số là giải pháp vô cùng quan trọng trong việc phát triển vốn tiếng Việt cho trẻ. Qua đó, sẽ giúp trẻ có cơ hội thường xuyên giao tiếp bằng tiếng Việt tốt hơn, thường xuyên sử dụng tiếng Việt nhiều hơn, thành thạo hơn. Ngay từ buổi họp phụ huynh đầu năm, tôi cùng giáo viên chủ nhiệm các lớp đã trao đổi, nói chuyện và giải thích trực tiếp cho phụ huynh học sinh người dân tộc thiểu số nhận thấy tầm quan trọng, cần thiết của tiếng Việt đối với trẻ trong quá trình học tập và giao tiếp của trẻ hằng ngày. Giáo viên hướng dẫn phụ huynh thường xuyên nói chuyện bằng tiếng Việt ở nhà như: Trò chuyện bằng tiếng Việt với trẻ trong giờ ăn, giờ ngủ, hay trong quá trình trẻ chơi, trẻ học. Khi trẻ được nói nhiều tiếng Việt ở nhà thì trẻ sẽ ghi nhớ,
  12. khắc sâu hơn, thậm chí là hình thành thói quen nói tiếng Việt ở mọi lúc, mọi nơi. Từ đó, vốn tiếng Việt của trẻ sẽ phát triển nhanh, khôn còn cảm thấy khó khăn khi nói chuyện bằng tiếng Việt với cô giáo, hay bạn bè, người thân. Ví dụ: Giáo viên có thể hướng dẫn cho phụ huynh trong khi ăn cơm thì hãy chỉ cho các cháu biết những món ăn trong gia đình bằng tiếng Việt, khi tắm cho cháu chỉ cho các cháu các bộ phận trên cơ thể và nói bằng tiếng Việt, khi trẻ đi học về nhắc con chào ông bà, bố mẹ bằng từ tiếng Việt. Vì thế, khi trẻ đến trường, lớp, trẻ tham gia tốt hơn ở các hoạt động và đã nói thạo hơn, nói lưu loát ngôn ngữ tiếng Việt hơn, trẻ đã mạnh dạn giao lưu cùng cô giáo, cùng bạn bè và mọi người xung quanh. Ngoài ra, để phối hợp tốt với phụ huynh trong tổ chức các hoạt động tăng cường tiếng Việt, tôi chỉ đạo cho giáo viên các lớp là phải luôn thông báo cho phụ huynh biết được các chủ điểm, chủ đề, các bài học trẻ được học, được trải nghiệm bằng cách thông báo trên bảng tin lớp, trường và trao đổi qua điện thoại, tin nhắn, Facebook, Zalo để tất cả phụ huynh cùng nắm bắt, phối hợp giáo dục trẻ một cách hiệu quả hơn. Khi trẻ nói tốt tiếng Việt, nhất định trẻ sẽ tiếp thu bài học một cách dễ dàng, học giỏi hơn trong cấp học mầm non và nhất là trong các cấp học sau này. Giáo viên phải dùng những lời nói bằng tiếng Việt, dễ hiểu, dễ nghe để thuyết phục sự phối hợp của phụ huynh trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ. Chính những lời động viên nhiệt tình ấy đã thúc đẩy phụ huynh quan tâm đến con em mình hơn, chăm lo cung cấp vốn tiếng Việt ở nhà cho trẻ nhiều hơn. (Hình 8: Hình ảnh kết hợp với phụ huynh trong việc dạy trẻ học tăng cường tiếng Việt) Tóm lại, với sự chỉ đạo thực hiện giải pháp trên thì tôi thấy đa số trẻ ở các lớp hiện nay đã nói tiếng Việt thành thạo hơn, nói lưu loát ngôn ngữ tiếng Việt, biết dùng từ, dùng câu để diễn đạt điều trẻ muốn nói và đặt biệt trẻ rất mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp cùng cô, các bạn và mọi người xung quanh. 3. Đánh giá đề tài
  13. Sau gần một năm thực hiện sáng kiến, tôi nhận thấy rằng “Giải pháp chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số tại Trường Mầm non Hoa Lan, huyện Khánh Vĩnh” đã thu được rất nhiều kết quả đáng mừng. Cụ thể: *Đối với trẻ Việc áp dụng thực hiện các giải pháp chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số. Nhìn vào thực tế, ta thấy được khả năng nghe hiểu, nói tiếng Việt của trẻ dân tộc thiểu số ở trường tôi hiện nay đã có thay đổi rõ rệt, trẻ không còn rụt rè, ngại ngùng trong các hoạt động hằng ngày ở lớp nữa, ngoài ra trẻ rất mạnh dạn, tự tin giao tiếp với cô, với các bạn lúc ở trường. Trẻ dân tộc thiểu số hầu như đã sử dụng tiếng Việt và giao lưu tiếng Việt một cách lưu loát. * Đối với giáo viên Giáo viên đã nắm vững các nội dung và kiến thức về cách tổ chức hoạt động tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số tại nhóm, lớp mình phụ trách. Giáo viên trường tôi đã thực hiện khá, tốt những nội dung này nên đã giúp trẻ dân tộc thiểu số Trường Mầm non Hoa Lan chúng tôi nói tiếng Việt tốt hơn, thành thạo hơn, khả năng giao tiếp lưu loát, mạnh dạn hơn. Qua kết quả khi áp dụng giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động tăng cường Tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số tại trường đã cho thấy chất lượng giảng dạy, chăm sóc giáo dục của giáo viên trong nhà trường ngày càng được nâng lên rõ rệt. Những vấn đề đang nghiên cứu đã đem lại kết quả cho đội ngũ cán bộ giáo viên. Những giải đáp, biện pháp của đề tài đưa ra đã góp phần thiết thực giúp giáo viên nắm bắt về nội dung, phương pháp kịp thời, có tính sáng tạo trong việc xây dựng môi trường, tổ chức các hoạt động tăng cường tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số đáp ứng với yêu cầu phát triển của giáo dục mầm non hiện nay. Kết quả đánh giá sau khi thực hiện giải pháp
  14. * Đối với giáo viên Kết quả khảo sát Tổng số giáo Stt Tiêu chí viên Tốt Khá TB Yếu Giáo viên nắm bắt việc triển trai các văn bản, 11 2 1 1 nội dung tổ chức các hoạt động tăng cường 14 0 (78,6%) (14,3%) (7.1%) tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số. Giáo viên thực hiện các hoạt động tăng 10 3 1 0 2 cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số đạt 14 (71,4%) (21,4%) (7,1% hiệu quả * Đối với trẻ Kết quả khảo sát Stt Tiêu chí Tổng số trẻ Đạt Chưa đạt Số lượng % Số lượng % 1 Trẻ nói thành thạo tiếng việt. 117 100 85,5% 17 14,5% Trẻ nghe và hiểu một số yêu cầu 2 của một số nội dung hoạt động 117 105 89,7% 12 10,3% tăng cường tiếng Việt. Trẻ biết giao tiếp và diễn đạt mạch 3 117 95 81,2% 22 18,8% lạc một số câu từ tiếng Việt.
  15. Trẻ tự tin giao tiếp với bạn, mạnh 4 dạn trao đổi trò chuyện cùng cô 117 92 78,6% 25 21,4% bằng từ tiếng Việt. * Đối với nhà trường Có kiến thức về kỹ năng chỉ đạo giáo viên áp dụng tổ chức các hoạt động tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số hiệu quả, chất lượng hơn. Nâng cao năng lực quản lý chuyên môn cho cán bộ quản lý, giúp công tác tổ chức hoạt động tăng cường tiếng Việt tại đơn vị được nâng cao, có hiệu quả. * Đối với phụ huynh Phụ huynh có ý thức phối hợp với giáo viên và nhà trường trong việc dạy trẻ nói tiếng Việt tại nhà, cũng như quan tâm, gần gũi trẻ, giao tiếp với trẻ bằng tiếng Việt nhiều hơn. 4. Tổ chức thu thập minh chứng Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã sưu tầm các tài liệu: Sách, báo, tạp chí cũng như thu thập các tài liệu trên trang mạng về tăng cường tiếng Việt cho trẻ, các bài viết của đồng nghiệp có liên quan đến việc chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động tăng cường tiếng Việt cho trẻ để nghiên cứu.