Báo cáo Giải pháp giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ khuyết tật tại lớp mẫu giáo 5-6 tuổi E, trường Mầm non Hoa Hồng, huyện Cam Lâm

doc 27 trang vantien 17/08/2025 1830
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Giải pháp giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ khuyết tật tại lớp mẫu giáo 5-6 tuổi E, trường Mầm non Hoa Hồng, huyện Cam Lâm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docbao_cao_giai_phap_giao_duc_phat_trien_ngon_ngu_cho_tre_khuye.doc

Nội dung tài liệu: Báo cáo Giải pháp giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ khuyết tật tại lớp mẫu giáo 5-6 tuổi E, trường Mầm non Hoa Hồng, huyện Cam Lâm

  1. CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc BÁO CÁO THỰC HIỆN GIẢI PHÁP I. THÔNG TIN CHUNG 1. Tên giải pháp: “ Giải pháp giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ khuyết tật tại lớp mẫu giáo 5- 6 tuổi E, trường Mầm non Hoa Hồng, huyện Cam Lâm” 2.Tác giả: Đoàn Thị Kim Nhung 3. Đồng tác giả: Không 4. Chủ đầu tư thực hiện: Đoàn Thị Kim Nhung 5. Lĩnh vực áp dụng: Phát triển ngôn ngữ 6. Thời gian, bắt đầu áp dụng: Bắt đầu từ ngày 01/11/2021 7. Địa điểm áp dụng: Lớp mẫu giáo 5-6 tuổi E, Trường Mầm non Hoa Hồng, Huyện Cam Lâm II. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do, sự cần thiết chọn giải pháp Trẻ em như búp trên cành Biết ăn biết ngủ, biết học hành là ngoan Như chúng ta đã biết giáo dục Mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là bộ phận quan trọng trong sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ thành những con người mới, con người có ích cho xã hội. Giáo dục Mầm non có nhiệm vụ xây dựng nền móng làm cơ sở ban đầu cho việc hình thành nhân cách con người trẻ. Trẻ em là hạnh phúc của mọi gia đình, là tương lai của đất nước, việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ không chỉ là trách nhiệm của mỗi gia đình mà là trách nhiệm của toàn xã hội. Sinh thời Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã viết: “ Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”, thấm nhuần tư tưởng của Người, Đảng nhà nước và nhân dân ta đã và đang quan tâm thực hiện tốt hơn công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ hòa nhập. Trong cuộc sống, ngoài những trẻ em khỏe mạnh bình thường vẫn còn những trẻ kém may mắn, bị khuyết tật, sinh ra với những khiếm khuyết về thể chất lẫn tinh thần khiến trẻ không thể phát triển bình thường như những bạn cùng trang lứa. Chính vì thế, việc giáo dục hòa nhập
  2. 2 trẻ khuyết tật trong trường Mầm non là việc làm hết sức quan trọng và cần được quan tâm. Giáo dục hòa nhập sẽ giúp trẻ bị khuyết tật được can thiệp sớm, được giáo dục trong môi trường giáo dục bình thường khắc phục khả năng phát triển kém, giúp trẻ có cơ hội hòa nhập với xã hội, với cộng đồng. Do vậy trường mầm non là chiếc nôi giúp trẻ khuyết tật phát triển tiến bộ hàng ngày, tạo cho trẻ có sự tự tin hòa nhập với cộng đồng, với toàn xã hội. Năm nay tôi được phân công dạy lớp mẫu giáo lớn 5- 6 tuổi E, hiện lớp tôi có 1 cháu tên Nguyễn Ngọc Bảo Nghi bị khuyết tật về ngôn ngữ, cháu sinh năm 2016, vấn đề đặt ra với tôi lúc này là cần phải tìm hiểu rõ đặc điểm tâm sinh lý của trẻ để tìm ra những giải pháp chăm sóc giáo dục trẻ giúp trẻ tham gia vào các hoạt động tốt hơn và hoà đồng với các bạn. Vậy làm thế nào để trẻ thể hiện ngôn ngữ nói khi muốn làm một việc gì đó, hiểu được ngôn ngữ của người khác. Nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục ngôn ngữ cho trẻ khuyết tật nên tôi đã quyết định chọn đề tài “ Giải pháp giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ khuyết tật tại lớp mẫu giáo 5- 6 tuổi E, trường Mầm non Hoa Hồng, Huyện Cam Lâm” để nghiên cứu trong năm học 2021- 2022 này với mong muốn can thiệp sớm góp phần khắc phục những khó khăn về ngôn ngữ cho trẻ. 2. Thực trạng vấn đề giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ khuyết tật tại lớp 5- 6 tuổi E tại trường Mầm non Hoa Hồng “ Mỗi đưa trẻ sinh ra đều có quyền: quyền được nghỉ ngơi và vui chơi, quyền tự do ngôn luận, quyền được an toàn khỏi bạo hành và quyền được giáo dục.” (Trích từ “ Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em”). Tất cả chúng ta là những con người bình thường nhưng đâu đó vẫn còn có những nổi đau tinh thần lẫn thể chất không hề nhỏ, đó là một cuộc sống thật sự khó khăn đối với trẻ em khuyết tật. Vì vậy, giáo dục hòa nhập là nhiệm vụ quan trọng và đầy tính nhân văn của ngành giáo dục, tạo cơ hội cho trẻ tiếp cận bình đẳng, giúp trẻ khuyết tật được hòa nhập với các bạn cùng trang lứa, không có sự tách biệt trong cuộc sống. Thực tế ở trường mầm non Hoa Hồng, huyện Cam Lâm cũng có 1 cháu bị khuyết tật về ngôn ngữ, đó là cháu: Nguyễn Ngọc Bảo Nghi, hiện đang học lớp mẫu giáo lớn 5- 6 tuổi E mà tôi phụ trách, cháu không được như các bạn khác trong lớp, cháu đang ở tình trạng ngôn ngữ rất kém, khả năng nghe hiểu, đối thoại và làm theo đề nghị với mọi người xung quanh còn rất nhiều hạn chế, hay ú ớ, hoặc hay nhắc một cách khó khăn câu nói của người khác. Cháu thường không nhìn người khác, tránh giao tiếp, nói không rõ ràng, có khi thường hay ôm bạn nói vu vơ, và không hiểu bạn nói gì, phát âm chưa đúng. Ngoài ra cháu hay ngồi một mình không chơi đùa cùng các bạn, không tham gia vào các hoạt động của lớp. Cháu còn hay đi ngoài ra quần mà không biết và việc tự phục vụ bản thân còn hạn
  3. 3 chế như xúc cơm, mặc quần áo. Khả năng hiểu và tương tác với người đối thoại của cháu rất kém. thường hay dùng cử chỉ, điệu bộ trong giao tiếp, cháu được bác sĩ chuẩn đoán là khuyết tật về ngôn ngữ và đã được UBND xã Cam Thành Bắc cấp giấy chứng nhận. Mức độ phát triển về ngôn ngữ của cháu còn hạn chế nên rất cần sự quan tâm, hỗ trợ của giáo viên ở lớp cùng với gia đình để giúp cháu phát triển tốt hơn về ngôn ngữ của mình. Song công tác giáo dục đặc biệt cho trẻ khuyết tật ngôn ngữ ở trường, lớp vẫn chưa được quan tâm đúng mức, vẫn còn chưa chăm sóc và giáo dục phù hợp, nâng cao hiệu quả cho trẻ khuyết tật. Chính vì vậy mà việc nghiên cứu thực trạng công tác giáo dục đặc biệt cho trẻ khuyết tật về ngôn ngữ ở trường mầm non Hoa Hồng để tìm ra nguyên nhân từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đặc biệt cho trẻ khuyết tật ngôn ngữ tại trường là rất cần thiết. Xuất phát từ những lí do trên tôi nghiên cứu đề tài “ Giải pháp giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ khuyết tật tại lớp mẫu giáo 5- 6 tuổi E, trường Mầm non Hoa Hồng, Cam Lâm””. 2.1. Thuận lợi - Được lãnh đạo nhà trường chỉ đạo tích cực mang tính hỗ trợ cao trong giáo dục hào nhập trẻ khuyết tật, nhà trường có đầy đủ hồ sơ theo dõi trẻ khuyết tật... - Được sự chỉ đạo,hổ trợ chuyên môn của bộ phận chuyên môn về trẻ khuyết tật, và sự ủng hộ nhiệt tình của cha mẹ trẻ. - Bản thân tôi khoẻ mạnh, nhiệt tình, luôn tìm tòi và tự nghiên cứu những tài liệu về dạng khuyết tật của trẻ ở lớp mình nhằm hiểu thêm về trẻ, biết lắng nghe ý kiến chỉ đạo, góp ý của lãnh đạo trường nói riêng và tất cả đồng nghiệp nói chung để kịp thời điều chỉnh bản thân mình. - Lớp có 2 giáo viên, đạt trình độ trên chuẩn luôn nhiệt tình, yêu nghề mến trẻ tạo điều kiện trong công tác chăm sóc, giáo dục trẻ. - Cha mẹ trẻ của lớp nhiệt tình, quan tâm chu đáo tới con em và thường xuyên trao đổi với giáo viên về tình hình của trẻ qua nhóm zalo của lớp 2.2. Khó khăn - Là một giáo viên đã công tác 13 năm trong nghề nhưng năm nay tôi mới dạy lớp có trẻ khuyết tật nên bản thân tôi chưa có nhiều kinh nghiệm về cách chăm sóc- giáo dục trẻ hòa nhập về ngôn ngữ - Tài liệu phục vụ cho trẻ khuyết tật còn rất ít, giáo viên chưa được bồi dưỡng chuyên sâu về trẻ khuyết tật nên việc lập kế hoạch giáo dục cho trẻ hòa nhập gặp nhiều khó khăn, cha mẹ trẻ làm nông nghiệp, điều kiện kinh tế còn khó
  4. 4 khăn nên ít có thời gian quan tâm đến trẻ. - Cha mẹ của trẻ khuyết tật còn có tâm lý e ngại, giấu diếm bệnh tật của con em mình, chưa phối hợp với giáo viên để thống nhất giải pháp chăm sóc, giáo dục trẻ. Nhiều khi cha mẹ không nghĩ đến việc chạy chữa hay khắc phục hậu quả khuyết tật cho con mình. - Do là trẻ khuyết tật về ngôn ngữ nên trẻ gặp nhiều khó khăn khi tham gia vào các hoạt động như: Đọc thơ, múa hát, vẽ, tô màu và khó giao tiếp để hòa nhập với các bạn cùng lứa với mình. - Trẻ chưa hoà nhập được với các bạn trong lớp, chưa biết tham gia vào các hoạt động trên lớp của cô, chưa biết tự phục vụ bản thân. - Việc có thêm một trẻ khuyết tật trong lớp tạo cho lớp một sự chú ý đặc biệt, có những trẻ bình thường tỏ ra sợ, không dám ngồi gần trẻ khuyết tật hoặc không nói chuyện, gần gũi cùng bạn... Đó chính là những khó khăn mà tôi gặp phải khi lần đầu tiên có trẻ khuyết tật trong lớp. Để khắc phục những khó khăn nêu trên, bản thân tôi vẫn phải luôn luôn cố gắng, nỗ lực tiến hành các hoạt động tương tác với trẻ đặc biệt là trẻ khuyết tật về ngôn ngữ tạo cho trẻ những hứng thú vui thích và mong muốn được đến trường học nhằm thực hiện tốt việc phát triển vốn từ cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ, qua đó giúp trẻ có thể hòa nhập với các bạn trong lớp và hứng thú khi tham gia các hoạt động với các bạn và cô giáo. III. NỘI DUNG GIẢI PHÁP 1. Mục tiêu của giải pháp Thông qua đề tài:“ Giải pháp giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ khuyết tật tại lớp mẫu giáo 5- 6 tuổi E, trường Mầm non Hoa Hồng, Cam Lâm”: - Về phía bản thân: Có thêm tài liệu chuyên môn trẻ khuyết tật về ngôn ngữ, bản thân có nhiều kinh nghiệm hơn, tạo niềm tin với lãnh đạo nhà trường và các chị em đồng nghiệp. - Về phía trẻ : Tạo ra môi trường sống, học tập hòa nhập tốt nhất cho trẻ khuyết tật, trẻ gần gũi, thân thiện, hòa đồng với cô và các bạn trong lớp hơn. Vốn từ tăng lên, trẻ nói rõ ràng, phát âm tốt hơn, mạnh dạn hơn. Có sự tiến bộ đặc biệt trong giao tiếp, biết bày tỏ mong muốn của mình với cô, với bạn, trả lời được các câu hỏi đủ ý. - Cháu biết bày tỏ mong muốn bằng lời nói, nhận biết các chữ cái, chữ số và biết tự phục vụ bản thân. - Về phía cha mẹ trẻ: Hiểu hơn về cách chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục
  5. 5 trẻ khuyết tật ngôn ngữ tại trường, không còn e ngại, biết quan tâm và phối hợp tốt với giáo viên để thống nhất giải pháp chăm sóc, giáo dục trẻ. 2. Mô tả bản chất của giải pháp: “ Giải pháp giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ khuyết tật tại lớp mẫu giáo 5- 6 tuổi E, trường Mầm non Hoa Hồng, Cam Lâm” là giải pháp tác nghiệp. 2.1. Các bước thực hiện: 2.1.1 Khảo sát, tìm hiểu trẻ khuyết tật về ngôn ngữ để chuẩn bị tốt kế hoạch riêng phù hợp với trẻ khi tổ chức hoạt động Vì chưa có kinh nghiệm trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ khuyết tật về ngôn ngữ, nên tôi thường xuyên tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm qua các phương tiện thông tin đại chúng, sách báo, phương tiện internet, kinh nghiệm của bạn bè, đồng nghiệp. Đây là một việc làm bắt buộc trong giáo dục hòa nhập, khi tìm hiểu nhu cầu và khả năng của trẻ khuyết tật về ngôn ngữ tôi mới có thể xây dựng được kế hoạch giáo dục cá nhân cho trẻ và các hoạt động giáo dục khác. Trong quá trình tìm hiểu, tôi đã tìm được tài liệu cho công việc nghiên cứu của mình, đó là tài liệu bồi dưỡng thường xuyên hè 2019, thêm vào đó, qua trang web: WWW.vohoangyen.com, hay bộ sách “ Phục hồi chức năng nói ngọng, nói lắp và thất ngôn cho trẻ khuyết tật về ngôn ngữ” Khi tiếp xúc trực tiếp với cháu Bảo Nghi, bản thân tôi luôn nghĩ mình cần phải có trách nhiệm với cháu, nhằm can thiệp giúp trẻ tiến bộ hơn. Bắt đầu từ những suy nghĩ đó, tôi đã nghiên cứu, tìm tòi ra những giải pháp, hay chỉ là những cách đơn giản để giúp trẻ khuyết tật giảm bớt những khoảng cách đối với trẻ bình thường, hòa nhập với những người xung quanh, giúp ngôn ngữ của trẻ ngày một phát triển và hoàn thiện hơn, để đạt được những mục tiêu đó tôi cần tìm ra nhu cầu và khả năng của trẻ khuyết tật của lớp mình xem cháu khiếm khuyết về ngôn ngữ ở thể loại nào? Phát âm ngọng, hay rối loạn ngôn ngữ, xem cháu có hiểu câu hỏi của cô không, cháu có phát âm hay có thể trả lời được câu hỏi không, ở mức độ nào? Cháu tự phục vụ bản thân không hay phải nhờ vào sự giúp đỡ người khác Khi đã nghiên cứu kỹ các tài liệu, bản thân tôi nhận thấy cháu của lớp mình thuộc dạng khuyết tật về ngôn ngữ. Cháu không nói, phát âm ngọng, ú ớ, đứt câu, trẻ thường tỏ ra sợ hãi, nhút nhát, không tự tin, vốn từ giao tiếp ít, thường dùng điệu bộ gật hoặc lắc, chỉ trỏ thay cho câu trả lời, không biết tự phục vụ bản thân. Từ đây tôi bắt đầu tiến hành lập kế hoạch hình thành các giải pháp phù hợp cho việc rèn luyện và phát triển vốn từ cho trẻ khuyết tật về ngôn ngữ tại nhóm lớp của mình phụ trách nhằm giúp trẻ hoà đồng và thực hiện tốt những mong muốn yêu cầu chưa được đáp ứng. Để đạt được những mục tiêu đưa ra, tôi đã xây dựng chương trình kế hoạch
  6. 6 giáo dục cá nhân riêng cho trẻ một cách kỹ càng để đánh giá năm mặt phát triển của trẻ: Thể chất vận động - khả năng ngôn ngữ và giao tiếp - khả năng nhận thức - khả năng tự phục vụ - khả năng tình cảm xã hội và thẩm mỹ. Trong quá trình tổ chức hoạt động, tôi luôn theo dõi quan sát từng biểu hiện để điều chỉnh mục đích, yêu cầu cho phù hợp với khả năng của trẻ, một hoạt động luôn có những mục tiêu, câu hỏi riêng cho cháu Bảo Nghi. Đặc biêt, dựa vào những đặc điểm riêng của trẻ nên tôi xây dựng hoạt động can thiệp sớm, theo dõi trẻ hằng ngày, ghi vào sổ nhật ký, lập kế hoạch cá nhân riêng theo từng tuần vào buổi chiều để hướng dẫn trẻ thực hiện tạo cơ hội, động viên, khuyến khích trẻ tham gia hoạt động đạt hiệu quả cao nhất. Sau mỗi chủ đề đều có đánh giá kết quả thực hiện của trẻ thông qua các biểu đánh giá với các mức độ (Nói độc lập, nói dưới sự giúp đỡ của cô, hay chưa nói được) từ đó tôi đưa ra mục tiêu và các hoạt động hỗ trợ trẻ trong các chủ đề tiếp theo. Ngoài ra, để trẻ có thể hoà nhập với các bạn trong lớp và tham gia vào các hoạt động hứng thú hơn tôi lựa chọn những nội dung thực sự phù hợp với hoạt động ngôn ngữ cho trẻ và phải thiết kế linh động, sáng tạo các hoạt động giúp trẻ lĩnh hội, khám phá kiến thức mới một cách tốt nhất. Ví dụ: Kế hoạch chăm sóc- giáo dục trẻ trong 1 tháng như sau: Can thiệp vào dạng khuyết tật ngôn ngữ của trẻ TT NỘI BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KẾT GHI DUNG GD QUẢ CHÚ - Các bài - Khởi động miệng bằng - Trẻ - Luyện Tuần 1 tập khởi cách: Thổi bong bóng, thổi bong thực hiện tập cho động miệng bóng nước bằng ống hút,liếm được bài trẻ chung và mật ,kẹo quanh miệng, hát theo khởi thường luyện hơi cô, kiểm tra tầng sóng âm thanh động xuyên, * Hoạt động chính: miệng khuyến chung khích trẻ - Luyện hơi; theo cô chủ động - Cô tập trung trẻ bằng thực hiện cách chơi trò chơi “Hơi ai dài hơn” + Cô làm mẫu AAAA,yêu cầu trẻ làm theo,khuyến khích trẻ đẩy hơi càng dài càng tốt + Khen khi trẻ thực hiện tốt
  7. 7 + Sửa sai khi trẻ phất âm sai,chưa biết lấy hơi từ bụng và đẩy hơi mạnh ra bên ngoài Trẻ -Khởi động tay bằng trò - Trẻ -Trẻ cần Tuần 2 cầm màu tô chơi xâu hạt,vẽ ngón tay trên cầm bút được tập đúng cách cát,nhặt đậu. di màu luyện ,di màu -Dạy trẻ phân biệt, phát đúng thêm trong hình âm tên từng màu sắc cách nhiều vẽ không theo sự hơn ở lem - Hướng dẫn trẻ cách tô hướng các buổi màu từ trái sang, từ trên xuống. dẫn của học sau Tô viền trước, sau đó tô bên cô trong để tránh bị lem. - Dạy trẻ tô màu liền nét, không đứt đoạn. Không tô đến đâu xoay giấy đến đó.không được tô chỗ trống chỗ bỏ không. - Dạy trẻ cách cầm bút màu đúng cách. - Cô cầm tay trẻ tô mâu sau đó để trẻ tự tô,quan sát và sửa sai cho trẻ. Tuần 3 - Các - Khởi động miệng liếm - Trẻ - Luyện bài tập khởi mật, kẹo quanh miệng, hát theo thực hiện tập cho động miệng cô, kiểm tra tầng sóng âm thanh được bài trẻ chung và * Hoạt động chính: khởi thường luyện hơi động xuyên,kh - Luyện hơi;Cô tập trung miệng uyến trẻ bằng cách chơi trò chơi “ Hơi chung khích trẻ ai dài hơn” theo cô chủ động +Cô làm mẫu U,I thực hiện M,N.,yêu cầu trẻ làm theo, khuyến khích trẻ đẩy hơi càng dài càng tốt + Khen khi trẻ thực hiện tốt
  8. 8 + Sửa sai khi trẻ phất âm sai,chưa biết lấy hơi từ bụng và đẩy hơi mạnh ra bên ngoài - Tập cách mở khẩu hình miệng,phát âm tròn vành rõ chữ:tập cho trẻ cách mở khẩu hình miệng to,điều khiển lưỡi,hàm Tuần 4 - Cháu biết - Mỗi ngày cô gọi tên cháu - Cháu Trẻ cần tên và đồ nhiều lần và cho trẻ tiếp xúc với biết quay được tập dùng cá nhiều đồ dùng vệ sinh cá nhân đầu lại luyện nhân của của cháu, cô chỉ cháu cách nhận khi cô thêm mình. biết. gọi tên, nhiều - Cháu thực - Cô quan sát, nhắc nhở nhận biết hơn ở hiện được cháu thường xuyên và hướng dẫn được các các hoạt một số yêu cháu thực hiện. Cô làm mẫu cho đồ dùng động sau cầu đơn trẻ xem. cá nhân giản cô của trẻ. giao: Cất -Biết gọi dép lên giá, cô, bạn cất đồ chơi bằng đúng nơi những từ quy định. ngắn, ngọng khi có nhu cầu. * 2.1.2 Cô giáo hãy là 1 người bạn hiểu mong muốn nhu cầu của trẻ, tạo sự tin yêu cho trẻ khuyết tật nhằm hỗ trợ và khuyến khích trẻ sử dụng ngôn ngữ tiếp nhận để phát triển ngôn ngữ của bản thân thông qua các hoạt động trong ngày. Trẻ nhỏ đặc biệt là trẻ khuyết tật về ngôn ngữ rất cần những lời động viên quan tâm, chăm sóc. Khi được cô quan tâm, yêu quí, gần gũi vỗ về sẽ kích thích trẻ tự tin, mạnh dạn trong giao tiếp hơn, hiểu được điều đó tôi đã làm một người bạn của trẻ hơn là một cô giáo, nhẹ nhàng thăm hỏi, quan tâm trò chuyện với trẻ bằng những câu chuyện gần gũi, thân mật với trẻ, luôn an ủi mỗi lúc trẻ buồn, khi trẻ ngồi 1 mình, luôn nở nụ cười những lúc trẻ nhìn cô. Hãy giúp trẻ có đa dạng cách
  9. 9 giao tiếp với mọi người, trẻ có thể sử dụng: tranh, ảnh, từ ngữ, hành vi, cử chỉ, điệu bộ để mọi người hiểu cảm giác và nhu cầu của mình. Bên cạnh đó trẻ khuyết tật thường có những biểu hiện khác với trẻ bình thường cùng độ tuổi do khuyết tật tạo ra, dễ làm trẻ khác chú ý hoặc chế nhạo hay xa lánh. Vì vậy, yêu cầu giáo viên phải tạo ra bầu không khí vui tươi, ấm áp, chia sẻ trong trường, lớp để trẻ hợp tác cùng nhau, giúp trẻ cảm thấy an toàn, được coi trọng, không bị khiển trách hay chê cười vì những khiếm khuyết của mình, không bị mặc cảm với các bạn.Còn trong các hoạt động giáo dục hòa nhập, giáo viên kịp thời phát hiện ra điểm mạnh; khuyến khích kịp thời những thành công của trẻ khuyết tật; thường xuyên giáo dục các bạn trong lớp cảm nhận những khó khăn của bạn khuyết tật. Đây là yếu tố quan trọng giúp trẻ khuyết tật tự tin, thích giao tiếp với bạn hơn, từ đó ngôn ngữ của trẻ cũng phát triển. Tuy nhiên, cũng có khi giáo viên hướng dẫn và các bạn trong lớp cảm thấy khó khăn khi hiểu trẻ muốn nói gì, nhưng theo thời gian, nếu kiên nhẫn lắng nghe trẻ, chúng ta có thể hiểu những gì trẻ nói. Giáo viên hãy là người giúp các trẻ khác trong lớp hiểu về những mong muốn của trẻ, đóng vai trò là người phiên dịch, tuy nhiên đừng thể hiện mình đóng vai trò đó với trẻ. Ví dụ: Vào mỗi buổi sáng cô tới gần xoa đầu và hỏi trẻ : Hôm nay ai đưa con đi học, sáng nay con ăn món gì? Ai mua cho con bộ đồ thật dễ thương này vậy, con thật là ngoan, cô thương con lắm đó .Nhằm kích thích trẻ trả lời Cô giáo hãy là một người bạn của trẻ
  10. 10 Cứ như thế vào những ngày đầu năm học tôi thường tiếp xúc với trẻ bằng những câu chuyện nhẹ nhàng và đơn giản, nhằm mục đích tạo cho trẻ thế an tâm và thấy thân mật khi ở bên cô và các bạn giúp trẻ mạnh dạn nói lên những gì trẻ muốn bằng những từ ngắn hoặc cũng có khi chỉ là 1 từ đơn lẽ. Điều này không phải có kết quả ngay ở buổi nói chuỵện đầu tiên mà nó kéo dài trong một thời gian nhất định, trong quá trình này tôi cũng thay đổi hình thức trò chuyện bằng nhiều hình thức khác như trò chơi, những buổi thảo luận hay những buổi dạo chơi cùng trẻ, những hoạt động trên lớp... Để đạt kết quả cao nhất tôi đã thực hiện mọi lúc mọi nơi khi thấy thích hợp nhằm tạo hứng thú cho trẻ để trẻ giao tiếp bằng ngôn ngữ cùng cô và các bạn. * Đối với trẻ khuyết tật về ngôn ngữ, đặc điểm của cháu là rất ít nói, không mở miệng để phát âm. Vì thế, mỗi ngày vào buổi chiều tôi dành ít nhất 15 phút cho cháu để dạy trẻ đọc thơ, kể chuyện và đàm thoại với trẻ. Ví dụ: Hoạt động LQVH: Dạy thơ: “ Đi nắng”. Khi dạy trẻ làm quen với bài thơ, tôi thường cho trẻ đọc thường xuyên vào hoạt động chung, lúc đón trẻ, trả trẻ, lúc trẻ chuẩn bị đi ngủ. Trong quá trình truyền thụ kiến thức, tôi thường dạy rất chậm và giảng giải từng câu ngắn trong bài thơ để trẻ hiểu. Nếu trong bài thơ đó có những từ khó tôi giảng giải cho trẻ khắc sâu hơn và đọc lại nhiều lần, nhấn mạnh để trẻ đọc theo cô, tuy cháu chưa đọc được tròn câu, trẻ chỉ đọc vuốt đuôi nhưng tôi thấy trẻ rất vui, có hứng thú khi đọc. Trung bình, mỗi câu thơ cháu chỉ đọc được 1- 2 từ ngắn gọn, vì thế việc dành thời gian cho cháu đọc thơ nhiều là rất cần thiết nhằm giúp trẻ đọc thơ tốt hơn. Cháu tham gia hoạt động đọc thơ nhằm phát triển ngôn ngữ
  11. 11 Còn đối với hoạt động kể chuyện thì ngoài việc kể cho trẻ nghe cùng các bạn trong lớp, vào giờ hoạt động theo ý thích tôi thường cho trẻ xem sách có tranh ảnh kèm theo để đọc cho trẻ nghe, kể cho trẻ nghe nhiều lần. Sau đó tôi cho trẻ chỉ từng nhân vật và phát âm lại tên nhân vật cùng cô để trẻ khắc sâu tên nhân vật trong các câu truyện. Ví dụ: Câu truyện “ Bác Gấu Đen và hai chú Thỏ” ngoài việc chỉ tranh và nói tên của nhân vật tôi còn cho trẻ nói về tính cách nhân vật. Con thấy Bác Gấu Đen như thế nào? Thỏ Nâu như thế nào?Thỏ Trắng có phải là con vật tốt không? Qua đây tạo cho trẻ câu trả lời “ Có” hoặc “ Không” nhằm kích thích trẻ nói. Ngoài ra, trong khi tổ chức hoạt động, chú ý cho trẻ xem hình ảnh có các nhân vật động phối hợp với lời kể, hoặc cho trẻ trực tiếp đóng vai nhân vật trong chuyện nhằm kích thích sự hứng thú của trẻ. Lúc đầu tôi thấy trẻ không chú ý lên màn hình hoặc chưa chú ý đến các nhân vật mà các bạn đóng vai, nhưng khi thấy các bạn vỗ tay và các bạn mang đồ của các nhân vật trong truyện tôi thấy trẻ thay đổi hẳn thái độ. Trẻ hào hứng hơn, khi đến nhân vật Thỏ trẻ chỉ vào bạn đang đóng vai và nói to: Cô! Thỏ, Thỏ. Từ đó tôi khai thác và thường xuyên cho trẻ nghe kể chuyện bằng các hình ảnh động hay những con rối mà tôi tự tạo kết hợp với lời thoại của nhân vật. Thêm vào đó là cho trẻ trực tiếp đóng vai chính những nhân vật trong chuyện. Tôi thấy trẻ có chiều hướng phát triển tốt cả về ngôn ngữ lẫn hành động. Cháu đóng vai, thể hiện 1 số lời thoại ngắn của các nhân vật trong chuyện
  12. 12 * Đối với hoạt động tạo hình: Do trẻ khuyết tật về ngôn ngữ nên ảnh hưởng đến trí nhớ của trẻ, trẻ không tập trung, không có khả năng nhớ lâu, cầm bút yếu và thường không chịu vẽ hoặc có vẽ thì vẽ nhỏ, không rõ hình, không vẽ theo yêu cầu của cô, cầm bút chì bằng tay trái hay cháu thường vẽ bậy vào bài. Ví dụ: Tôi yêu cầu trẻ tô màu cho con mèo, tuy nhiên cháu không làm mà còn vứt màu tô xuống đất không chịu thực hiện. Thấy vậy tôi lại gần nhẹ nhàng hỏi cháu: Ở nhà con có nuôi con vật không? Cháu trả lời: “ Có”. Nhà con nuôi con gì? Cháu trả lời: “ Gà”. Vậy cô cháu mình cùng tô màu con vật ở nhà của con nhé. Cháu: “ Dạ”. Lúc đầu tôi bắt tay cho trẻ tô, sau đó tôi chỉ cho trẻ cách cầm bút sao cho đúng. Cô khuyến khích trẻ tô màu đẹp không lem ra ngoài, không vẽ bậy vào bài làm bẩn bài, khắc sâu về nhận biết màu cho trẻ. Để kích thích trẻ tôi thuờng khen ngợi trẻ kịp thời khi trẻ ngoan và làm tốt theo yêu cầu của cô. Từ những việc làm trên tôi thấy trẻ bắt đầu có những biểu hiện muốn gần cô, nhìn cô âu yếm, ú ớ muốn nói khi có nhu cầu, từ đó trẻ tự tin hơn khi muốn trao đổi với cô những điều trẻ muốn biết và trẻ bắt đầu có những mối quan hệ với xung quanh, gần gũi bạn bè hơn. Qua hoạt động tạo hình giúp trẻ gần gũi với cô và các bạn hơn
  13. 13 * Hoạt động tìm hiểu “Môi trường xung quanh”: Do ngôn ngữ bị hạn chế, trẻ khó nhận ra các mối quan hệ giữa sự vật và hiện tượng xung quanh. Vì vậy, để việc tiếp cận tốt với hoạt động này cho trẻ khuyết tật về ngôn ngữ được tốt hơn, tôi cho trẻ quan sát trực tiếp sự vật, hiện tượng đó. Ví dụ: Cho trẻ tìm hiểu về các loại hoa: Tôi cho trẻ xem các loại hoa quen thuộc như hoa hồng, hoa cúc, hoa đồng tiền thật để cho trẻ quan sát. Phát âm chậm, rõ tên từng loại hoa nhằm cho trẻ phát âm theo. Sau đó cho trẻ sờ vào các cánh hoa xem cánh hoa như thế nào? Cho trẻ ngửi xem hương thơm của hoa ra sao? Cho trẻ cầm từng cành hoa xem đặc điểm của từng bông hoa như thế nào từ đó đặt câu hỏi đàm thoại, phù hợp và kích thích trẻ trả lời nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Hoặc cho trẻ tìm hiểu một số con vật sống dưới nước. Đầu tiên tôi cho trẻ xem con cá bơi trong bể nước, sau đó tôi quan sát biểu hiện của trẻ xem như thế nào và tôi nhận thấy: Mới đầu trẻ không chú ý vào các con vật thật, nhìn trẻ có biểu hiện sợ hãi, không muốn tri giác. Sau một lúc quan sát thấy các bạn gọi nhau, bảo với nhau: “Con cá đấy! Con cá đấy”. Trẻ bắt đầu nhìn vào bể cá và quan sát rất chăm chú. Tôi lại gần hỏi những trẻ xung quanh trước là con gì đây? Nó như thế nào, sau đó tôi gọi cháu Bảo Nghi trả lời lại, tôi thấy trẻ trả lời khá tự tin nhưng vẫn còn ngắt quảng: “ Con cá”, tuy nhiên câu trả lời của cháu còn ngọng nghịu, chưa rõ ràng nhưng cũng thể hiện được sự cố gắng của trẻ. Còn khi cho trẻ tìm hiểu về các loại quả, tôi cho trẻ xem quả dưa hấu, quả xoài, đu đủ thật để trẻ quan sát, cho trẻ nếm mùi, vị của quả đó hoặc khi cho trẻ quan sát con chó, con mèo tôi cũng đem các con vật thật cho trẻ xem để trẻ được sờ bộ lông, nghe tiếng kêu thật của các con vật đó để giúp trẻ hiểu rõ hơn và nói được một vài từ ngắn về đặc điểm của con vật đó. * Hoạt động ngoài trời: Ví dụ: Chơi vẽ nước. Lúc đầu tôi cho các cháu mỗi cháu 1 chiếc cốc nhỏ để chấm vẽ nước các loài cây ăn quả. Tôi phát đồ dùng cho các cháu, các cháu trong nhóm vẽ nhanh và rất hứng thú. Nhưng cháu Bảo Nghi thì cho cả tay vào cốc nước rửa, sau đó thì hắt nước ra ngoài rồi lại đi lấy nước khác. Tôi lại gần cháu và hỏi: Con có biết dùng nước này có thể vẽ được nhiều cây rất đẹp không? Con nhìn xem trước tiên cô chấm nước sau đó cô vẽ những nét thẳng làm thân cây, rồi cô vẽ tán cây nữa, con nhìn xem có hay không nào? Tôi thấy trẻ mìm cười. Sau đó cô vẽ tiếp quả cho cây và kích thích trẻ: Con có muốn vẽ thêm nhiều cây nữa không. Trẻ nói: “ Có ạ”. Vậy thì con vẽ tiếp nhé khi nào không vẽ được thì con lại gọi cô nhé. Tôi thấy cháu đã hứng thú hơn, muốn nói hơn và bắt đầu hòa cùng các bạn trong quá trình chơi
  14. 14 hơn * Hoạt động góc: Khi cho trẻ chơi hoạt động góc, tôi hỏi trẻ các góc chơi có tên gì? Riêng cháu Bảo Nghi không nói được tên các góc và không biết mình muốn chơi ở góc nào mà chỉ im lặng. Tôi thử cho trẻ chơi từng góc chơi một cùng với các bạn xem phản ứng của trẻ như thế nào? Từ đó dần dần giúp trẻ nhớ tên từng góc chơi. Tôi dắt cháu đi từng góc, giải thích cho trẻ hiểu các bạn đang làm gì. Bạn Thảo đang nấu ăn, bạn đang rán cá ... Bạn Minh đang xây dựng công viên. Ví dụ: Góc bán hàng, tôi cho các trẻ đóng vai các cô bán hàng. Một số bạn thì có có hứng thú chơi với bạn còn một số bạn không chơi với cháu. Cuối buổi chơi đầu tiên tôi lại gần những cháu không chơi với cháu Bảo Nghi. Tôi hỏi nguyên nhân vì sao các con không chơi với bạn?. Các cháu bảo rằng vì bạn không biết làm, không biết đi mua sắm. Tôi khuyên các cháu là học cùng một lớp các con phải chơi với bạn và khi bạn không biết thể hiện vai chơi của mình thì con giúp bạn như vậy thì con đã làm một việc tốt, cuối tuần cô thưởng cho con phiếu bé ngoan nhé. Dần dần cháu hòa đồng với các bạn và giao tiếp với các bạn nhiều hơn giúp ngôn ngữ của cháu ngày một phát triển hơn Qua hoạt động góc, tôi thấy ngôn ngữ của trẻ ngày càng được kích thích phát triển phong phú hơn, vốn từ và khả năng phát âm của trẻ cũng tăng lên từng ngày. Thấy vậy, tôi bắt đầu cho cháu chơi từng góc chơi, cứ 2- 3 ngày tôi lại đổi vai chơi, góc chơi 1 lần nhằm gây thêm sự hứng thú cho trẻ. * Hoạt động “ Âm nhạc”: Lúc đầu, tôi cho trẻ hát 1 mình thì thấy trẻ không những không hát mà còn cúi gằm mặt hoặc quay đi. Qua đó tôi nghĩ chắc trẻ xấu hổ về khả năng của mình nên tôi bắt đầu thay đổi giải pháp là mời từng tổ hát. Sau đó tôi mời tổ cuối cùng hát ( Trong đó có trẻ khuyết tật về ngôn ngữ) thì thấy cháu cùng đứng lên và hát với các bạn. Những khi không thuộc cháu dừng lại và quan sát bạn bên cạnh, sau đó lại tiếp tục hát theo. Từ đó tôi biết là trẻ xấu hổ không tự tin nên trẻ có phản ứng như vậy. Nắm được đặc điểm đó của trẻ, tôi đã thay đổi giải pháp đúng kích thích sự phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Những lúc rảnh tôi thường dạy cháu hát, múa một mình với cô. * Hoạt động theo ý thích: Khi vào hoạt động theo ý thích, tôi thường cho trẻ ôn lại một số bài thơ, tôi kết hợp cho trẻ đọc cùng các bạn và mời cá nhân trẻ khuyết tật lên đọc. Hoặc qua việc cho trẻ ôn lại nội dung của một số câu chuyện, cháu đã biết trả lời, phát âm tên câu chuyện, tên các nhân vật trong chuyện và có thể nói được một vài từ trong lời thoại của nhân vật. Dần dần, qua một thời gian tôi thấy cháu tự tin hơn, biết tham gia cùng các bạn để đọc bài, trả lời các câu hỏi tốt hơn.
  15. 15 * Giải pháp 3: Dạy trẻ khuyết tật về ngôn ngữ tự phục vụ bản thân Trẻ khuyết tật về ngôn ngữ không được như những trẻ bình thường khác, Trẻ thường không thể tự phục vụ bản thân mà phải nhờ vào người khác giúp đỡ, hổ trợ. Cũng có lúc, trẻ biết một số việc làm để phục vụ bản thân nhưng còn nhút nhát và vụng về. Vì vậy, muốn trẻ tự phục vụ mình, giáo viên cần phải để ý và nhắc nhở trẻ nhiều lần mới mong trẻ thực hiện được. Việc làm này cô cần rèn luyện cho trẻ thường xuyên để trẻ không quên, giúp trẻ nhớ và làm tốt việc của mình. Ví dụ: Khi muốn nhờ cô việc gì cháu thường hay đến bên cô lay lay cô và chỉ nói ú ớ, hoặc khi muốn cô cởi đôi giày cháu đến gần cô, chỉ vào đôi giày và giơ chân lên. Lúc đó tôi vừa cởi giày cho cháu vừa nói: Con nhớ! Khi muốn cô cởi giày cho con thì con phải nói: “ Cô ơi! Cởi giày giúp con”, như thế mới giỏi, cô mới thương con nhiều. Tuy nhiên cháu chỉ nói được “ Cô ơi” nhưng tôi vẫn không nản chí và tiếp tục rèn, khuyến khích trẻ nói và nói trọn câu. Hay cũng có những lúc trẻ xúc cơm bị đổ vung vãi hay làm một việc gì đó còn vụng về, cô nên động viên cháu, nhỏ nhẹ dạy cháu mỗi lần xúc cơm chỉ xúc ít một rồi đưa lên miệng, há to, như thế cơm sẽ không bị vãi. Khi cháu thực hiện tốt, cơm không bị rơi ra bàn ra cô cần khen ngợi trẻ kịp thời để tạo hứng thú cho cháu cố gắng làm tốt ở những công việc khác. Ví dụ: Khi trẻ xúc cơm ăn giỏi, không bị rơi vãi ra ngoài, cô đến gần và khen ngợi: “ Bảo Nghi hôm nay giỏi quá, tự xúc ăn gần hết cơm rồi, lại còn xúc giỏi không làm thức ăn rơi vãi ra bàn nữa đấy”. Mỗi lần như vậy tôi thấy cháu tự khắc “ Dạ”, cháu cười và nói: “ Con giỏi, cơm, cơm”, cháu rất ngoan và tự xúc ăn một cách gọn gàng mà không cần cô nhắc nhở. Hay một ví dục khác: Vào buổi trưa, khi cháu đi ngủ thường hay đái dầm, nhiều lần còn “ Đi ngoài” ra quần mà không hề hay biết cũng không nói với cô. Lúc đầu tôi chưa tìm hiểu rõ nên tỏ ra rất ngại và khá bực bội rồi trách móc cháu. Nhưng sau này, khi thấu hiểu được những khó khăn khiếm khuyết và thiệt thòi của cháu tôi liền thay đổi thái độ khi cháu “ Đi” như vậy, tôi thường hay gần gũi, khuyên bảo, nhắc nhở cháu và bắt đầu thực hiện hướng dẫn cháu bằng cách: Vận động cháu đi vệ sinh trước trước khi đi ngủ, sau đó nằm gần cháu, dặn dò cháu khi nào con muốn đi vệ sinh con nhẹ nhàng ngồi dậy đi, hoặc có thể gọi cô giúp đỡ đừng để tè dầm ra quần là sẽ rất xấu và không ngoan, các bạn sẽ chê cười và không chơi với con đấy, con biết chưa nào? Mỗi lần như thế tôi thấy cháu “ Dạ, dạ” và tỏ ra hiểu lời nói của cô. Cứ như thế tôi thấy số lần đi vệ sinh trong quần của cháu ngày càng giảm, có khi cháu tự dậy đi vệ sinh mà không cần sự trợ giúp của cô, dần dần cháu biết tự phục vụ bản thân một cách độc lập.
  16. 16 Trẻ đã biết tự xúc cơm, không làm cơm rơi vãi Qua một thời gian rèn luyện, tôi thấy cháu Bảo Nghi đã có thể tự phục vụ mình qua một số việc làm đơn giản như: Trẻ có thể tự đi rửa tay khi tay bẩn, biết cởi áo khi thay đồ, biết cất đồ dung cá nhân như mũ, dép, cặp đúng tủ của mình. Đó là thành quả của một quá trình rèn luyện, nổ lực của cả cô và cháu. * Giải pháp 4: Rèn ngôn ngữ cho trẻ khuyết tật ở mọi lúc mọi nơi Cháu Bảo Nghi bị khuyết tật về ngôn ngữ, nên trong khi tổ chức các hoạt động tôi cho trẻ ngồi gần và đối diện với mình để giúp trẻ có thể nghe rõ và nhìn khẩu hình miệng của cô, từ đó trẻ có thể hiểu một phần nào cô muốn nói gì. Còn với bản thân mình, tôi phải tự luyện giọng để giúp trẻ cảm thụ hoạt động một cách hứng thú nhất. Mặt khác, tôi luôn luôn cố gắng làm sao cho cháu hòa đồng cùng các bạn trong lớp, tôi thường hay gọi trẻ nói nhiều những lúc đọc thơ, kể chuyện hay hát múa cùng các bạn, sau mỗi lần hát cố gắng khuyến khích, động viên khen ngợi cháu cùng các bạn trong nhóm. Trong quá trình tiến hành, tôi chú ý rèn nề nếp, kỹ năng và kích thích sự sáng tạo của trẻ: Tôi rèn nề nếp, luyện phát âm cho trẻ ở mọi lúc, mọi nơi. Gợi ý, hướng dẫn trẻ làm những bài tập khơi gợi kinh nghiệm, khả năng phán đoán của trẻ. Bên cạnh đó, vào những giờ họat động ngoại khóa hay trong giờ ăn, giờ ngủ,
  17. 17 giờ chuẩn bị ra về, tôi cho một số bạn trong lớp gần gủi, trò chuyện, chơi với trẻ nhằm kích thích trẻ nói để trẻ tự tin hơn khi giao tiếp với bạn bè qua đó ngôn ngữ của trẻ ngày càng phát triển. Ngoài ra, khi đưa các hoạt động vào chăm sóc giáo dục trẻ, tôi thường dạy trẻ làm quen dần với các sự vật hiện tượng xung quanh, với các tình huống có thể xẩy ra với trẻ. Cố gắng hướng trẻ vào nề nếp để thực hiện những yêu cầu đơn giản phù hợp với nhận thức và khả năng của trẻ. Đó là nền tảng để trẻ phát triển một cách toàn diện ở những năm học tiếp theo. Trẻ tham gia vui đùa cùng các bạn * Giải pháp 5: Phối, kết hợp với cha mẹ trẻ và đồng nghiệp cùng chăm sóc và giáo dục ngôn ngữ cho trẻ khuyết tật Việc chăm sóc và giáo dục một đứa trẻ bình thường đã khó, nay chăm sóc và giáo dục trẻ khuyết tật về ngôn ngữ càng khó hơn. Vì thế việc cô giáo phối, kết hợp với cha mẹ trẻ, đồng nghiệp để chăm sóc và giáo dục cháu phát triển toàn diện về mọi mặt là rất cần thiết, bởi vì cha mẹ trẻ cũng có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ, cho nên cha mẹ cần quan tâm đến trẻ nhiều hơn, tiếp xúc trò chuyện với trẻ, tạo môi trường gần gũi để trẻ có cơ hội phát triển ngôn ngữ của bản thân nhiều hơn, từ đó trẻ sẽ phát huy tốt khả năng của mình kể cả khi ở trường
  18. 18 cũng như ở nhà nên vốn từ của trẻ tăng lên, trẻ nói nhiều và hòa đồng, giao tiếp với mọi người xung quanh hơn. Đầu tiên, qua từng chủ đề tôi thường in những bài thơ, bài hát, câu chuyện gửi cho cha mẹ trẻ khuyết tật nhờ cha mẹ hướng dẫn và dạy cháu thêm khi ở nhà. Cũng có thể hướng dẫn cha mẹ chỉ cho cháu cách vẽ, tô màu, đọc thơ, kể chuyện phù hợp thông qua zalo nhóm lớp, cá nhân. Qua quá trình cha mẹ chăm sóc, giáo dục cháu tại nhà, nói cha mẹ theo dõi thấy cháu có biểu hiện như thế nào thì trực tiếp trao đổi với cô giáo để cùng nhau giúp đỡ trẻ, từ đó cô có những giải pháp riêng đối với trẻ khi ở trên lớp, còn cha mẹ cũng có thể cùng cô giáo dục cháu tốt hơn khi ở nhà. Dạy trẻ từ những cái nhỏ nhất nhằm giúp trẻ tự tin khi phát âm, biết tham gia trò chuyện, trả lời câu hỏi khi tham gia hoạt động Cha mẹ trẻ cùng phối hợp rèn thêm nhằm PTNN cho trẻ khi ở nhà Ngoài ra, cần tư vấn, vận động phụ huynh đưa cháu đến các cơ sở y tế chuyên nghành, trạm y tế của xã khám để kiểm tra, theo dõi tình hình khiếm khuyết của cháu và chữa bệnh miễn phí cho trẻ mỗi tháng 1 lần nhằm giúp trẻ phát triển một cách toàn diện hơn. Ngoài việc phối hợp với cha mẹ trẻ , bản thân tôi luôn trao đổi, học hỏi đồng nghiệp về những biểu hiện của cháu để chị em cùng nhau giải quyết, giúp có thêm kinh nghiệm về cách thức giáo dục để có những giải pháp xử lý kịp thời. Ngoài ra tôi thường xuyên lên mạng, tìm hiểu thông tin từ sách báo, nghe đài phát thanh của
  19. 19 xã để hiểu thêm về cách hướng dẫn và chăm sóc trẻ khuyết tật về ngôn ngữ từ đó có những giải pháp chăm sóc cháu tốt hơn. Ngoài ra, lãnh đạo nhà trường luôn luôn giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cũng như động viên về tinh thần giúp tôi có thêm động lực để chăm sóc giáo dục trẻ khuyết tật được tốt hơn, đạt kết quả cao hơn * Giải pháp 6: Giáo dục ngôn ngữ cho trẻ khuyết tật thông qua trò chơi Đối với trẻ Mẫu giáo, được phát triển ngôn ngữ thông qua trò chơi là một biện pháp tốt nhất. Trò chơi đã trở thành phương tiện để cung cấp, tích luỹ được nhiều vốn từ và trên cơ sở hiểu biết đầy đủ ý nghĩa của những từ đó, trẻ biết sử dụng “số vốn từ” tốt hơn. Qua trò chơi trẻ sẽ được giao tiếp mạnh dạn hơn, ngôn ngữ cũng lưu loát hơn, vốn từ của trẻ cũng được tăng lên. Và tôi nhận thấy rằng khi trẻ chơi trò chơi xong sẽ gây sự hứng thú lôi cuốn trẻ vào hoạt động. Như vậy trẻ sẽ tiếp thu bài một cách nhẹ nhàng và thoải mái và nó thực sự có hiệu quả từ đó ngôn ngữ của trẻ ngày càng phong phú. Ví dụ 1: Trò chơi :“Cái gì? Dùng để làm gì? Mục đích của trò chơi này là tôi muốn trẻ nhận biết được một số đồ dùng quen thuộc và biết tác dụng của những đồ chơi từ đó ngôn ngữ của trẻ cũng được phát triển. Chuẩn bị: + Đồ dùng để ăn uống ( Bát, thìa, cốc, ca ); đồ dùng để mặc (Quần, áo, khăn, mũ ). Mỗi trẻ một tranh lôtô đồ dùng khác nhau * Tiến hành: Tôi cho trẻ ngồi xung quanh cô. Cô nhắc tên đồ dùng nào thì trẻ phải nói nhanh đồ dùng đó dùng để làm gì ? - Vd: Cô nói: + Cái bát dùng để làm gì?( Cái bát đựng cơm). Cái cốc dùng để làm gì?( Dùng để uống nước). Cái mũ để làm gì?( Cái mũ để đội)? Cái áo để làm gì? ( Cái áo để mặc) Sau khi hỏi trẻ xong tôi vận dụng trò chơi này để rèn sự nhanh nhẹn và tư duy của trẻ. Tôi phát cho mỗi trẻ một lô tô đồ dùng khác nhau, yêu cầu trẻ gọi tên đồ dùng và xác định nơi cất đồ dùng đó trong lớp. Sau đó tôi hô 1 2,3 yêu cầu trẻ chạy nhanh về đúng nơi có đồ dùng giống đồ dùng mình đang cầm trên tay, cho trẻ phát âm lại các đồ dùng rồi đàm thoại để kích thích trẻ trả lời. Ví dụ2: Trò chơi :“Con muỗi” Cách chơi: Cô đứng phía trước trẻ, cô cho trẻ đọc và làm động tác theo cô. Cô cho trẻ đọc từng lời một có kèm theo động tác + Có con muỗi vo ve ,vo ve (Trẻ giơ ngón tay trỏ ra trước mặt vẫy qua vẫy lại theo nhịp đọc) . + Đốt cái tay, đốt cái chân, rồi bay đi xa. (Lấy ngón tay trỏ vào cánh tay đối
  20. 20 diện, chỉ xuống đùi rồi dang 2 tay sang ngang). + Úi chà! Úi chà! Dang tay ra đánh cái bép,con muỗi xẹp. Rửa tay.( Nhún vai 2lần, dang 2 tay sang ngang, vỗ tay một cái rồi chỉ vào chop mũi. Sau đó xoa 2 tay vào nhau vờ rửa tay). Tuỳ theo sự hứng thú của trẻ mà cho trẻ chơi 3- 4 lần. Khi trẻ chơi tôi nhận thấy tất cả các trẻ đều tham gia đọc cùng cô, còn trẻ khuyết tật có khi chỉ đọc vốt đuôi, có khi chỉ bập bẹ bớt một hai từ. Nhưng qua đó cũng giúp ngôn ngữ của trẻ dần dần được hình thành trọn vẹn hơn. Ví dụ 3: Trò chơi: “Trò chuyện về các PTGT quen thuộc”. Qua trò chơi này trẻ sẽ kể được một số phương tiện giao thông quen thuộc như: Ôtô, xe đạp, xe máy, tàu hoả Chuẩn bị: Mô hình các PTGT : Ôtô, xe máy, xe đạp Tranh, ảnh các loại PTGT. Đàn, đài có thuâm thanh tiếng kêu của các PTGT cho trẻ đoán. Tiến hành: Trong trò chơi này tuỳ thuộc vào thời gian rảnh rỗi tôi có thể cho trẻ chơi. Có thể là giờ đón trẻ , trả trẻ, giờ hoạt động theo ý thích hay cũng có thể giờ hoạt động ngoài trời tôi có thể đàm thoại với trẻ về các loại PTGT mà trẻ biết như: Hôm nay, ai đưa con đến trường? Mẹ con đưa đến trường bằng PTgì? Cô nào đón con vào lớp? Hôm qua chủ nhật, bố mẹ con có đưa con đi đâu không? Con đi với ai? Con đi bằng PTgì? Khi đi đường con nhìn thấy gì? Ô tô kêu như thế nào? Khi ngồi trên ôtô phải như thế nào để đảm bảo ATGT? Sau khi đặt những câu hỏi như vậy tôi khuyến khích trẻ kể tên những loại PTGT khác mà trẻ biết, kích thích trẻ trả lời câu hỏi của cô, cho trẻ làm tiếng còi của các PT giúp ngôn ngữ của trẻ ngày càng phát triển Ví dụ 4: Trò chơi: “Trò chuyện cùng cô”. Qua trò chơi này trẻ được phát âm nhiều, tiếp xúc nhiều với ngôn ngữ mới, qua giao tiếp với cô. Tiến hành: Trong ngày tuỳ từng thời điểm mà cô dành thời gian vỗ về ôm ấp trẻ, nói chuyện với trẻ như: Khi cho ăn: Bạn Nghi ăn giỏi nào, con ăn cơm với gì đấy? (ăn cơm với thịt ). Con ăn được mấy bát cơm rồi? Khi thay quần áo cho trẻ cô cũng cần nựng trẻ: Cô mặc áo đẹp cho Nghi nhé? (Vâng ạ), áo đẹp này ai mua cho con?( Mẹ ạ). Con có biết mẹ mua ở đâu không?( ở chợ). Con có thích mặc áo này không? (Có ạ) Khi ngồi chơi cô trò chuyện với trẻ về một chủ đề nào đấy để khơi gợi trẻ được phát âm nhiều: Bạn Nghi có bàn tay bé xíu trông rất đáng yêu này! Hàng ngày các con phải làm gì để đôi bàn tay luôn sạch? ( Rửa tay). Thế đôi bàn tay để làm gì con có biết không?(múa, xúc cơm ). Tuy trẻ trả lời thường chưa nguyên câu, chỉ nói từ một hoặc câu cụt nhưng qua đây kích thích trẻ nói và ngôn ngữ của trẻ ngày một phát triển hơn.