Sáng kiến kinh nghiệm Giải pháp nâng cao chất lượng dạy học văn bản nghị luận trung đại môn ngữ văn lớp 8 ở trường THCS Trần Đại Nghĩa

docx 24 trang vantien 16/09/2025 2020
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Giải pháp nâng cao chất lượng dạy học văn bản nghị luận trung đại môn ngữ văn lớp 8 ở trường THCS Trần Đại Nghĩa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_giai_phap_nang_cao_chat_luong_day_hoc.docx

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Giải pháp nâng cao chất lượng dạy học văn bản nghị luận trung đại môn ngữ văn lớp 8 ở trường THCS Trần Đại Nghĩa

  1. 2 PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO DIÊN KHÁNH TRƯỜNG THCS TRẦN ĐẠI NGHĨA KINH NGHIỆM GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRUNG ĐẠI MÔN NGỮ VĂN LỚP 8 Ở TRƯỜNG THCS TRẦN ĐẠI NGHĨA I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài NĂM HỌC: 2020 - 2021 TÁC GIẢ: LÊ TRẦN DIỄM OANH Lĩnh vực: Ngữ văn NĂM HỌC: 2020 - 2021 NĂM HỌC: 2019 - 2020
  2. 3 MỤC LỤC Nội dung Trang I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài 2 - 3 2. Mục tiêu nghiên cứu 3 - 4 II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng của vấn đề cần giải quyết 1.1. Cơ sở lý luận 4 – 5 1.2. Cơ sở thực tiễn 5 2. Nội dung giải pháp thay thế 2.1 Chuẩn bị cho tiết dạy - học 5 - 6 2.2. Tạo tâm thế, gây hứng thú cho học sinh 6 - 8 2.3. Hướng dẫn HS đọc văn bản và tìm hiểu chú thích 8 - 9 2.4. Hướng dẫn HS hiểu được bối cảnh lịch sử - tác giả - tác 9 - 10 phẩm 2.5. Hướng dẫn HS nắm được đặc trưng thể loại 10 – 12 2.6. Hướng dẫn HS nắm được hệ thống từ vựng, điển cố 12 - 14 2.7. Dùng sơ đồ tổng kết bài học 14 – 16 2.8. Hướng dẫn HS liên hệ nội dung tác phẩm với cuộc sống thực 16 - 17 tại 3. Đánh giá đề tài 17 4. Tổ chức thu thập minh chứng 17 - 19 III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1. Kết luận 19 - 20 2. Khuyến nghị 20 - 21 TÀI LIỆU THAM KHẢO 22 PHỤ LỤC
  3. 4 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Trung học cơ sở THCS Giáo viên GV Học sinh HS Sách giáo khoa SGK Văn học trung đại VHTĐ Phương pháp dạy học PPDH
  4. 5 KINH NGHIỆM GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRUNG ĐẠI MÔN NGỮ VĂN LỚP 8 Ở TRƯỜNG THCS TRẦN ĐẠI NGHĨA Văn học trung đại (VHTĐ) Việt Nam là bộ phận văn học gắn liền với một giai đoạn lịch sử quan trọng của đất nước. Giai đoạn lịch sử này đã để lại một di sản văn học vô cùng quý báu, đồ sộ về khối lượng; phong phú, đa dạng về nội dung; đạt tới đỉnh cao về nghệ thuật. Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu di sản này, chúng ta càng thêm gắn bó với truyền thống cao đẹp của dân tộc. Bởi lẽ “Mỗi tác giả với thiên tài của mình và giới hạn của thời đại, phản ánh một thời kì lịch sử, đánh dấu một bước tiến của văn học, làm giàu thêm cho tư tưởng, tình cảm và tiếng nói Việt Nam” (Phạm Văn Đồng). Trong nhiều năm trở lại đây, các phương pháp dạy học theo hướng tích cực đã được chú trọng (kể cả việc ứng dụng công nghệ thông tin). Việc đổi mới chương trình và phương pháp giảng dạy khiến người giáo viên đứng lớp cần đổi mới cách dạy học, đầu tư nhiều hơn trong quá trình giảng dạy. Trên thực tế, việc giảng dạy các tác phẩm văn học Việt Nam trung đại ở trường THCS lại gặp không ít khó khăn, phần nhiều giáo viên e ngại giảng dạy các văn bản này. Việc rút ngắn khoảng cách để học sinh dễ dàng tiếp nhận nội dung văn bản là điều không đơn giản (nhất là với thế hệ giáo viên trẻ khi vốn kiến thức, hiểu biết văn hóa thời trung đại còn hạn chế). Bản thân giáo viên cũng còn nhiều lúng túng khi khai thác các tác phẩm văn học cổ, nhất là về mặt từ ngữ. Các tác phẩm giai đoạn này hay dùng điển tích, điển cố và để cho học sinh hiểu thấu đáo được phải giải thích thành một câu chuyện dài. Cũng có khi giáo viên chưa hiểu hết ý nghĩa của các điển cố đó vì chưa có điều kiện nghiên cứu, tìm hiểu kĩ càng vì vậy việc giải thích không thể giải thích cho học sinh hiểu thấu đáo được. Trong quá trình giảng dạy VHTĐ, giáo viên thường chỉ chú ý khai thác nội dung làm toát lên những quan điểm tư tưởng của tác giả đề cập mà ít chú ý đến vẻ đẹp về hình thức nghệ thuật của tác phẩm cũng như các vấn đề có liên quan khác, vì thế việc dạy các tác phẩm nghị luận thường khô, không hấp dẫn. Hơn nữa có một thực tế phổ biến là học sinh không có hứng thú khi học văn học Việt Nam trung đại, tình trạng ngại đọc sách, nghiên cứu tài liệu và không say mê với việc tìm hiểu những vấn đề thuộc lĩnh vực trừu tượng này trở nên không còn hiếm ở các lớp. Bên cạnh đó cái hay mỗi thời mỗi khác, có những cái mà quan niệm xưa cho là hay là đẹp thì
  5. 6 nay đã trở nên xa lạ, nếu không có vốn tri thức nhất định về văn hóa, văn học thì không thể hiểu được, vì thế các em không dễ có tâm thế sẵn sàng tiếp nhận văn bản đã ra đời cách nay nhiều thế kỉ. Do đặc thù lịch sử nước ta và tính chất của văn nghị luận trung đại được coi trọng. Việc dạy - học văn nghị luận thật khó, dạy - học văn nghị luận ở cấp Trung học cơ sở, cụ thể là ở lớp 8, lại càng khó hơn. Từ tình hình thực tế, bản thân tôi luôn băn khoăn, trăn trở làm thế nào để có thể giảng dạy các tác phẩm văn học Việt Nam trung đại đạt hiệu quả? Làm thế nào để học sinh tiếp cận tác phẩm văn học Việt Nam trung đại đễ dàng hơn? Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã mạnh dạn đưa ra kinh nghiệm: Giải pháp nâng cao chất lượng dạy học văn bản nghị luận trung đại môn Ngữ văn lớp 8 ở trường Trung học cơ sở Trần Đại Nghĩa. 2. Mục tiêu nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Các văn bản nghị luận trung đại trong chương trình Ngữ văn lớp 8 THCS và quá trình dạy văn bản nghị luận trung đại ở trường THCS. Nhiệm vụ nghiên cứu + Tổng hợp cơ sở lý luận của văn bản nghị luận trung đại + Khảo sát thực trạng học tập của HS. + Đề xuất một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của các đối tượng HS trong giờ học văn bản nghị luận trung đại. Phương pháp nghiên cứu: Để nghiên cứu đề tài này tôi đã sử dụng những phương pháp sau: + Phương pháp quan sát: Hình thức chủ yếu của phương pháp này là dự giờ đồng nghiệp từ đó tôi có thể phát hiện ra những ưu nhược điểm trong bài dạy của các đồng nghiệp. + Phương pháp phân tích, tổng hợp: Khi đưa ra một số vấn đề nào đó thì người thầy phải nêu ra tình huống có vấn đề thật rõ ràng để học sinh nắm được. Sau đó đi vào từng khía cạnh từ nhỏ đến lớn, phân tích kĩ càng, tránh lan man dài dòng. Khi phân tích xong, GV phải đúc kết lại đưa ra kết luận tổng hợp nhất, làm cho bản chất vấn đề được bộc lộ rõ ràng nhất, dễ hiểu nhất thì mới thu được kết quả trong giảng dạy.
  6. 7 + Phương pháp tích cực: Là phương pháp hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động. Thực chất của phương pháp tích cực đòi hỏi người dạy phải phát huy tính tích cực chủ động của người học. + Phương pháp tích hợp: Tích hợp nhiều kĩ năng trong một môn học; tích hợp chương trình chính khoá và ngoại khoá; tích hợp giữa kiến thức và thực tiễn. + Phương pháp đàm thoại: Người thầy cần xây dựng được một hệ thống câu hỏi để HS trả lời nhằm gợi mở cho các em những vấn đề mới, tự khám phá những tri thức mới bằng sự tái hiện những tài liệu đã học hoặc từ kinh nghiệm đã tích luỹ được trong cuộc sống, giúp học sinh tự kiểm tra, đánh giá việc lĩnh hội tri thức. Giới hạn nghiên cứu Những tiết học văn bản nghị luận trung đại trong chương trình Ngữ văn 8. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng của vấn đề cần giải quyết 1.1. Cơ sở lý luận 1.1.1. Khái niệm chung: Như chúng ta đã biết văn chính luận là một thể loại đặc biệt. Trong bài văn, tác giả đứng trên một lập trường quan điểm nhất định để trình bày, phân tích, phê phán, đánh giá một vấn đề chính trị - xã hội khiến người đọc chẳng những hiểu, đồng tình với cách giải quyết của tác giả mà còn tham gia tích cực vào cách giải quyết đó. Văn nghị luận trung đại là những văn bản nghị luận ra đời vào thời kỳ trung đại. Phân biệt giữa nghị luận trung đại và nghị luận hiện đại: * Nghị luận trung đại: * Nghị luận hiện đại: - Thường được thể hiện bằng những thể - Đây là một thể văn (thể nghị luận) trong văn cổ như: Chiếu, hịch, cáo, tấu với văn xuôi hiện đại chứ không phân chia các cách diễn đạt và ngôn ngữ riêng. thể rõ như văn nghị luận trung đại. - Có nhiều từ ngữ cổ và hình ảnh giàu - Thoát li khỏi những hình ảnh ước lệ, tính ước lệ, câu văn biền ngẫu sóng đôi khuôn mẫu trong từng câu chữ, tạo được nhịp nhàng, dùng nhiều điển tích, điển cách hành văn giản dị, câu văn gần với lời cố ăn tiếng nói hàng ngày, gần gũi gắn bó với đời sống - Mang đậm thế giới quan của người - Thoát khỏi những tư tưởng cổ điển, hướng trung đại như: tư tưởng nhân nghĩa, thiên tới những tư tưởng mới của thời đại.
  7. 8 mệnh, thần chủ 1.1.2. Những văn bản nghị luận trung đại trong chương trình Ngữ văn 8 Tác giả Tác phẩm Năm sáng tác Thể loại Lí Công Uẩn Chiếu dời đô (“Thiên đô chiếu”) Năm 1010 Chiếu Trần Quốc Tuấn Hịch tướng sĩ Năm 1285 Hịch Nguyễn Trãi Nước Đại Việt ta (trích “Bình Ngô đại Năm 1428 Cáo cáo”) Nguyễn Thiếp Bàn luận về phép học (“Luận học Năm 1791 Tấu pháp”) 1.2. Cơ sở thực tiễn Thực sự khi giảng dạy phần văn bản nghị luận trung đại, một số giáo viên thường ngại, lo lắng bởi đứng trước nhiều khó khăn: 1.2.1. Khó khăn khách quan: Đây là những tác phẩm viết bằng chữ Hán. Vì vậy trong bài có nhiều điển tích, điển cổ, từ ngữ Hán học mà giáo viên và học sinh khó hiểu. Điểm nổi bật trong các tác phẩm này là sự thuyết phục người đọc bằng lí trí và tình cảm. Tuy là một luận văn chính trị song lại có nhiều hình ảnh rất gợi cảm với thể văn biền ngẫu uyển chuyển mạnh mẽ, giàu nhạc điệu nên phương pháp dạy cũng khác với thể loại thơ trữ tình hoặc ký sự. Sách tham khảo cho giáo viên còn ít, phần lớn giáo viên phải tự đi sưu tầm. Là thể loại mới, rất lạ so với học sinh lớp 8, nên các em khó hình dung được không khí lịch sử. 1.2.2. Khó khăn chủ quan: Giáo viên chưa chọn cho mình một phương pháp dạy thích hợp, chưa tìm hiểu vốn từ cổ, xem nhẹ việc đọc, ít giảng từ, điển tích, điển cố. Giáo viên chưa nhấn mạnh sắc thái trữ tình, nét đặc sắc của các thể loại nên giảng bài khó khăn, kém hiệu quả. 2. Nội dung giải pháp thay thế
  8. 9 Qua thực tế giảng dạy và nghiên cứu, tìm hiểu, học hỏi, bằng sáng kiến của cá nhân, tôi xin đề xuất một số kinh nghiệm dạy học văn bản nghị luận trung đại như sau: 2.1. Chuẩn bị cho tiết dạy – học. Việc chuẩn bị cho tiết dạy là một bước rất quan trọng. Đối với một giờ dạy văn bản văn học trung đại: - Giáo viên cần đọc kĩ văn bản, nghiên cứu tài liệu về lịch sử có liên quan đến tác giả, tác phẩm. Ở đây, tôi xác định hai loại tư liệu cơ bản để đưa vào giờ dạy: + Tư liệu động như video, băng hình , tôi sưu tầm chúng trên internet để bài dạy thêm phong phú, sinh động, giúp HS khắc sâu kiến thức hơn. Trong tư liệu động này, tôi sử dụng sao cho có hiệu quả, tránh dàn trải, làm loãng kiến thức bài học. + Tư liệu tĩnh như tranh ảnh, bảng biểu, sơ đồ , tôi có thể tự làm (đưa trực tiếp vào powerpoint) hoặc hướng dẫn HS chuẩn bị. - Giáo viên cần nắm vững các chú thích, các điển tích, điển cố có trong bài; tìm tranh ảnh có liên quan để hỗ trợ tiết dạy; lưu ý hệ thống kiến thức cần truyền đạt để xây dựng hệ thống câu hỏi hợp lý. Giáo viên cần chú trọng vào việc tạo tâm lý, gây hứng thú cho học sinh ngay từ đầu văn bản để học sinh có nhu cầu tiếp nhận nội dung; sau mỗi văn bản giáo viên cần lập sơ đồ tư duy, hệ thống hóa kiến thức để học sinh nhớ bài học. Chẳng hạn khi dạy bài “Chiếu dời đô”, giáo viên cần xem lại đặc điểm địa lý của cố đô Hoa Lư, xã hội thời Lí, tiểu sử, công trạng của Lí Công Uẩn, nền văn hóa thời Lí ; đối với “Hịch tướng sĩ”, giáo viên phải nhận rõ vai trò của Trần Quốc Tuấn trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên, tội ác của giặc Mông – Nguyên, tình hình triều Trần và quân sĩ lúc bấy giờ - Giáo viên phải hướng dẫn học sinh đọc kĩ văn bản, đọc kĩ chú thích; nắm rõ các từ khó, điển cố, điển tích; ghi ngắn gọn phần trả lời vào vở soạn; tìm hiểu các câu chuyện có liên quan đến sự kiện được đề cập đến trong văn bản. Nếu học sinh không đọc hoặc đọc qua loa thì các em không thể hiểu được nội dung văn bản. 2.2. Tạo tâm thế, gây hứng thú cho học sinh. Ở mỗi tiết dạy, mỗi giáo viên thường chú trọng phần Khởi động - giới thiệu bài. Đây là bước tạo tâm thế cho học sinh tiếp cận văn bản. Với văn bản trung đại giáo viên cần giới thiệu ngắn gọn, súc tích, liên quan trực tiếp đến sự kiện trong văn bản. Giáo viên có thể sử dụng các câu hỏi gợi mở hoặc dùng tranh ảnh. Cách 1: Giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở:
  9. 10 Khi dạy văn bản “Nước Đại Việt ta”, tôi sử dụng các câu hỏi gợi mở sau: - Nước ta từ xưa đến nay có mấy văn bản được xem là Tuyên ngôn độc lập của đất nước? Đó là những văn bản nào? - Các em đã được học bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất ở lớp nào? Từ đó giới thiệu bài học: Trong lịch sử văn học dân tộc, áng thiên cổ hùng văn “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi được coi là bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai. Đó là áng văn tràn đầy lòng tự hào dân tộc. Chỉ qua đoạn trích “Nước Đại Việt ta”, ta đã thấy rõ điều đó. Cách 2: Giáo viên sử dụng tranh ảnh: Ví dụ, khi dạy bài “Chiếu dời đô”: GV cho học sinh quan sát tranh và đặt câu hỏi: Những hình ảnh sau gợi cho em nhớ đến sự kiện lịch sử nào của Hà Nội? Từ đó GV giới thiệu vào bài mới: Những hình ảnh mà các em vừa xem chính là những hoạt động trong Đại lễ kỉ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội tính từ khi Lí Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư – Ninh Bình về thành Đại La (sau đổi tên thành Thăng Long – Hà Nội ngày nay). Sự kiện dời đô có ý nghĩa lịch sử trọng đại, ghi dấu ấn bước phát triển của quốc gia Đại Việt, phản ánh khát vọng của nhân dân ta về một đất nước độc lập,
  10. 11 thống nhất, tự cường và khí phách của một dân tộc anh hùng. Thăng Long Hà Nội – mảnh đất nghìn năm văn vật gắn liền với tên một vị vua xuất chúng Lí Thái Tổ. Cô trò chúng ta cùng quay ngược dòng thời gian để thấy được những quyết định đúng đắn của vua Lí Thái Tổ qua bài học “Chiếu dời đô” (“Thiên đô chiếu”). Hay khi dạy văn bản “Hịch tướng sĩ”, tôi cho HS xem một bức ảnh: Tôi đặt câu hỏi: Cảm xúc của các em như thế nào khi xem bức ảnh này? Từ đó, tôi giới thiệu vào bài học: Với cô, ấn tượng đầu tiên đó là một đạo kị binh rất thiện chiến, hùng dũng trong cuộc chiến đấu với quân giặc. Cái tên Mông Cổ không hề xa lạ với các em, nhất là các em đã được học ở chương trình Lịch sử lớp 7. Từ một bộ lạc du mục ở vùng Trung Á, người mông Cổ đã phát triển thành một đế chế hùng mạnh vào thế kỉ XIII dưới thời của Thành Cát Tư Hãn. Phạm vi ảnh hưởng của đế chế ấy lan rộng khắp từ châu Á sang châu Âu, đúng như lời người ta nói: “Vó ngựa Mông Cổ đi đến đâu, cỏ cây chết đến đó”. Ấy vậy mà khi đại quân Mông Cổ đặt chân vào Đại Việt đã phải ngậm đắng thất bại đến ba lần 1258, 1285 và 1288. Trong chiến công vĩ đại của lần thứ hai và lần thứ ba, có một vị chủ soái đã góp phần to lớn tạo ra hào khí Đông A của cả một dân tộc đó là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn – tác giả của bài “Hịch tướng sĩ”. Hôm nay cô trò chúng ta cùng tìm hiểu bài học này. 2.3. Hướng dẫn học sinh đọc văn bản và tìm hiểu chú thích. Với các văn bản nghị luận trung đại, bước này rất cần thiết vì ngôn ngữ trong văn bản không phải dễ hiểu. Học sinh không chỉ đọc ở nhà mà còn đọc và tìm hiểu theo sự
  11. 12 hướng dẫn của giáo viên để hiểu đúng theo đặc trưng thể loại và biết được các kiến thức có liên quan. Hướng dẫn học sinh đọc bài, giáo viên cần chú ý cách đọc văn bản vì các văn bản thường có kiểu văn biền ngẫu, giọng điệu cũng cần phải chuẩn mực, phù hợp. Ví dụ: Với văn bản “Chiếu dời đô”, là lời của vua nên giọng điệu chung là trang trọng nhưng có những câu cần nhấn mạnh sắc thái tình cảm tha thiết hoặc chân tình: “Trẫm rất đau xót về việc đó”, “Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để dịnh chỗ ở. Các khanh nghĩ thế nào?” - Cho học sinh đọc kĩ chú thích ( * ) và chú thích 8. Với bài “Hịch tướng sĩ” cố gắng chuyển đổi giọng điệu cho phù hợp với nội dung của từng đoạn: lúc thì căm giận, đau xót, uất ức; khi thì đằm thắm, xúc động; lại có đoạn giọng dồn dập, dằn từng câu, nhấn từng chữ. Cần chú ý tính chất cân xứng, nhịp nhàng của câu văn biền ngẫu. Đọc kĩ chú thích ( * ) và các chú thích 17, 18, 22, 23. Với bài “Nước Đại Việt ta”, cần đọc trang trọng, hùng hồn, tự hào. Chú ý tính chất câu văn biền ngẫu cân xứng, nhịp nhàng. Đọc kĩ chú thích ( * ) và các chú thích 1, 2, 3, 4 Với văn bản “Bàn luận về phép học” lại đọc với giọng điệu chân tình, bày tỏ thiệt hơn, vừa tự tin, vừa khiêm tốn. Đọc kĩ chú thích ( * ) và các chú thích 2, 3. 2.4. Hướng dẫn học sinh hiểu được bối cảnh lịch sử - tác giả - tác phẩm Khi dạy các văn bản nghị luận trung đại, giáo viên phải dựng lại được không khí văn hóa, lịch sử của thời đại, phải tạo được sự đồng cảm về văn hóa văn học. Từ điểm xuất phát là hiện tại, giáo viên giúp học sinh trở lại quá khứ để học tập cách cảm, cách nghĩ của người xưa. Tác phẩm văn học trung đại lớp 8 là những tác phẩm có ý nghĩa lịch sử gắn liền với các sự kiện trọng đại của đất nước và tác giả là những vị vua, vị tướng, người có vai trò quan trọng gắn cuộc đời mình với vận mệnh đất nước lúc bấy giờ. Vì thế, nắm được bối cảnh lịch sử - tác giả - tác phẩm sẽ gợi không khí thời đại góp phần soi sáng nội dung tác phẩm. Ví dụ: Bài “Chiếu dời đô” cần nắm được: - Vương triều Tiền - Lê vào đầu thế kỉ XI lâm vào khủng hoảng cực điểm. - Cần có người đứng đầu đất nước hội tụ: Nhân, Đức, Giản và Trí. Ở Lý Công Uẩn đã hội tụ những phẩm chất đó. - Sau khi được tôn lên làm vua, ông nhận thấy Hoa Lư chật hẹp, không thể mở mang làm chỗ đô hội được.
  12. 13 - Việc dời đô không chỉ có ý nghĩa với triều Lý mà còn mở ra kỉ nguyên quốc gia Đại Việt độc lập và thể hiện niềm tự hào dân tộc về đất nước đang trên đà lớn mạnh. Bài “Hịch tướng sĩ” cần nắm được: - Nhấn mạnh thời điểm xuất hiện của nó (năm 1284) và lý do vì sao Trần Quốc Tuấn lại viết bài hịch này. Cần chú ý vào thế giặc, sự ngông cuồng của kẻ thù và tư tưởng dao động, cầu hòa của một bộ phận trong hàng ngũ tướng sĩ. - Công lao của Trần Quốc Tuấn trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông và sự tận trung, tận lực của ông. - Hào khí Đông A. 2.5. Hướng dẫn học sinh nắm được đặc trưng thể loại. Ở chương trình Ngữ văn 8, các văn bản tương ứng với các thể loại như sau: “Chiếu dời đô” (thể Chiếu), “Hịch tướng sĩ” (thể Hịch), “Nước Đại Việt ta” (thể Cáo), “Bàn luận về phép học” (thể Tấu). Do đó, trước khi tiếp xúc với các văn bản, giáo viên cần giới thiệu cho học sinh một cách đầy đủ và rõ ràng về đặc trưng thể loại đó để học sinh có thể tự mình tiếp cận tác phẩm. * Về thể loại: Chiếu: Là thể văn cổ, do vua chúa hay thủ lĩnh dùng để ban bố mệnh lệnh. Hịch: Là thể văn nghị luận xưa thường được vua chúa hay tướng lĩnh, thủ lĩnh một phong trào dùng để cổ động, thuyết phục hoặc kêu gọi đấu tranh chống thù trong giặc ngoài. Cáo: Là một thể văn nghị luận cổ, thường được vua chúa, hoặc thủ lĩnh dùng để trình bày một chủ trương hay công bố kết quả một sự nghiệp để mọi người cùng biết. Tấu: Là một văn thư của bề tôi, thần dân gửi lên vua chúa để trình bày sự việc, ý kiến, đề nghị. Như vậy xét về thể loại cần cho học sinh thấy sự khác nhau: * Về mục đích: * Về đối tượng viết và nhận: - Chiếu: Trình bày một chủ trương, đường - Chiếu, Hịch, Cáo: Do vua, chúa hoặc lối để mọi người chấp thuận bằng cách thủ lĩnh viết và thần dân, binh lính... là dùng lí lẽ để lập luận hướng tới mục đích. người tiếp nhận. - Hịch: Kêu gọi, cổ vũ động viên bằng cách - Tấu: Do thần tử, bề tôi, quan tướng viết dùng tình cảm và lập luận để tác động vào dâng lên vua chúa. tinh thần.
  13. 14 - Cáo: Công bố kết quả của một sự nghiệp bằng cách nêu quan điểm lập trường của sự nghiệp đó. - Tấu: Nêu ý kiến, đưa đề nghị bằng cách lập luận xác đáng và thuyết phục. * Về đặc trưng: - Các văn bản nghị luận trong chương trình lớp 8 được viết với một nhiệt huyết nồng nàn. Tuy thuộc loại văn bản chính trị hành chính nhưng ở các tác phẩm không hề có giọng khô khan, chỉ chú trọng sự lập luận khúc chiết lôgic và văn phong chặt chẽ mà còn tràn đầy cảm xúc. Ví dụ: “Hịch tướng sĩ” sau khi tố cáo tội ác của kẻ thù để tô đậm nỗi đau mất nước, khơi dậy lòng căm thù, danh dự làm tướng của các tì tướng Trần Quốc Tuấn đã trực tiếp bộc lộ cảm xúc: “ Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối ruột đâu như cắt, nước mất đầm đìa, chỉ căm tức sao chưa xả thịt, lột da,nuốt gan uống máu quân thù, dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng” Với bài “Chiếu dời đô” để tạo sự đồng cảm giữa mệnh lệnh của vua với thần dân, Lý Công Uẩn thuyết phục người nghe bằng lí lẽ chặt chẽ và bằng tình cảm chân thành : “Trẫm rất đau xót về việc đó”, “Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để dịnh chỗ ở. Các khanh nghĩ thế nào?” - Các văn bản thường dùng lối văn biền ngẫu biến hóa linh hoạt, nhịp nhàng, khi thì văn xuôi, khi là văn vần. Ví dụ: “Đã đúng ngôi Nam Bắc Đông Tây; lại tiện hướng nhìn sông tựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng” (“Chiếu dời đô”) “Núi sông bờ cõi đã chia Phong tục Bắc Nam cũng khác Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nến độc lập Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương” (“Nước Đại Việt ta”) - Các tác phẩm thường in đậm thế giới quan con người trung đại: Tư tưởng mệnh trời, thần, chủ, tâm lí sùng cổ, sùng bái tổ tiên...
  14. 15 Ví dụ : Tư tưởng tuân theo mệnh trời của hai nhà Thương, Chu nên có kết quả tốt. Còn hai nhà Đinh – Lê không tuân theo mệnh trời nên triều đình ngắn ngủi, nhân dân chịu cảnh khổ (“Chiếu dời đô”). Hay việc lấy các tấm gương trung thần nghĩa sĩ của Trung Hoa xưa và nay để khích lệ ý chí lập công danh của các tướng sĩ. Lấy đạo thần – chủ để khích lệ tinh thần quyết chiến quyết thắng kẻ thù (“Hịch tướng sĩ”) 2.6. Hướng dẫn học sinh nắm được hệ thống từ vựng, điển cố. Trong các tác phẩm trung đại, các tác giả sử dụng một hệ thống từ vựng, điển cố mang đặc trưng của thể văn này. Trước mỗi bài học, nếu chưa hiểu hết được các từ vựng, điển cố này thì chưa thể hiểu được nội dung cũng như nghệ thuật của tác phẩm. Ở đây SGK Ngữ văn chú thích khá đầy đủ những từ khó trong mỗi văn bản, giáo viên cần phải hướng dẫn, yêu cầu học sinh nắm được ý nghĩa của các từ ngữ cũng như điển cố. Mặt khác giáo viên cần phân tích ý nghĩa của các từ ngữ trong văn bản để học sinh cảm nhận được lời hay, ý đẹp và yêu thích tác phẩm đó. Nhưng không nên quá sa đà vào việc giảng giải mà cần có sự lựa chọn những từ ngữ tiêu biểu có nội dung liên quan đến nội dung tư tưởng, chủ đề của tác phẩm để phân tích. a) Hướng dẫn tiếp cận điển tích, điển cố Khi dạy điển tích, điển cố, giáo viên cần phải hiểu rõ ràng để giảng cho học sinh hiểu nếu chỗ nào chưa hiểu thấu đáo thì không nên giảng. Ví dụ : Dạy bài “Hịch tướng sĩ” có rất nhiều điển tích, điển cố: Kỉ Tín, Do Vu, Dự Nhượng, Thân Khoái, Kính Đức, Cảo Khanh...Tất cả những điển tích này, sách giáo khoa đã chú thích rõ, giáo viên chỉ cần phân tích ý nghĩa của các điển cố này ở chỗ chúng nêu gương trung quân ái quốc, những điển hình của lý tưởng phong kiến. Đây là những tấm gương xả thân cho lý tưởng: trung với vua, với chủ...điều này gắn liền với thời đại của Trần Quốc Tuấn. Nêu các tấm gương như vậy để khích lệ tinh thần chiến đấu vì lý tưởng của các nghĩa sĩ. b) Hướng dẫn tiếp cận từ ngữ mang tính ước lệ tượng trưng, hệ thống từ Hán Việt A. Tôn xtôi đã nêu một quy luật rất quan trọng của nghệ thuật là: “Nghệ thuật chỉ tác động đến con người nhờ chi tiết”. Do đó, với lớp từ cụ thể, phong phú, Tiếng Việt có khả năng bộc lộ rõ nét tư tưởng, thái độ của tác giả. Giáo viên cần chọn những từ ngữ giàu sắc thái biểu cảm có tác động mạnh đến tư tưởng, tình cảm của độc giả. Việc lựa
  15. 16 chọn từ ngữ chính xác, cụ thể, tinh tế góp phần quan trọng trong việc khắc họa hình tượng, nội dung tư tưởng của tác phẩm. Ví dụ: Với bài “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, yêu cầu về thể loại là phải có nội dung, cấu trúc ngôn ngữ khích lệ, động viên nhằm kích thích ý chí chiến đấu và niềm tin chiến thắng, thấy được phải trái, thấy được sức mạnh chính nghĩa. Vì vậy, giáo viên phải phân tích sự phản ánh tâm lí trong ngôn ngữ và tác dụng của ngôn ngữ đối với tâm lí trong bài hịch như: + Khi phân tích đoạn nói về tội ác của bọn giặc cần chú ý đến các từ ngữ “ đi lại nghênh ngang”, “sỉ mắng triều đình”, “bắt nạt tể phụ”, “đòi ngọc lụa”, “vét của kho” nhằm cụ thể hóa những hành vi ngạo mạn vi phạm chủ quyền quốc gia dân tộc Đại Việt của bọn sứ giả phương Bắc. Hay các hình ảnh ẩn dụ “ cú diều”, “dê chó”, “hổ đói” để không chỉ nói lên tính gian manh, ác thú của kẻ thù mà còn thấy được thái độ của người viết. + Khi phân tích đoạn ghi lại thái độ căm thù cao độ và lòng yêu nước sục sôi của Trần Quốc Tuấn “Ta thường tới bữa quên ăn ... ta cũng vui lòng” thì không thể bỏ qua các động từ “ xả, lột, nuốt, uống” và các điển tích “trăm thân, nghìn xác” gây xúc động lòng người, tạo sự đồng cảm của các tướng sĩ. Với bài “Chiếu dời đô” của Lý Công Uẩn, yêu cầu về thể loại là dùng để ban bố mệnh lệnh. “Chiếu dời đô” gắn với một sự kiện lịch sử - chính trị hết sức quan trọng của năm 1010 đưa đến một bước ngoặt vĩ đại cho sự phát triển của dân tộc Đại Việt. Ngoài việc thể hiện chức năng của thể Chiếu, văn bản này còn có đặc điểm riêng là tính chất tâm tình bên cạnh tính chất mệnh lệnh, bên cạnh ngôn ngữ đơn thoại một chiều của vua còn có ngôn từ mang tính chất đối thoại, trao đổi. Vì vậy, giáo viên cần làm rõ để thấy được tâm tư, tình cảm của người ban Chiếu đã tạo được sự giao cảm, đồng lòng của nhân dân trong nước qua những câu “Trẫm rất đau xót về việc đó”, “Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. Các khanh nghĩ thế nào?”. Ngôn ngữ có tính chất đối thoại này không chỉ tạo nên sự đồng cảm giữa mệnh lệnh của vua và thần dân mà còn tạo nên sự thuyết phục cho bài Chiếu. Với bài “Nước Đại Việt ta” của Nguyễn Trãi, nhà thơ Xuân Diệu đã nhận xét: “Bình Ngô đại cáo hạ một chữ như đổ một trái núi”. Hình như Nguyễn Trãi đã cân nhắc từng chữ, từng lời, từng ý; mỗi chữ dùng đều chọn lọc sao cho có sức biểu cảm âm vang,
  16. 17 tất cả đều hợp lí. Vì vậy giáo viên cần cho học sinh thấy rõ lời văn trang nghiêm, trịnh trọng, đanh thép, uy nghi trong bài Cáo. Với bài “Bàn luận về phép học” của Nguyễn Thiếp, giáo viên cần làm rõ sự đúng đắn, tiến bộ, vượt thời đại trong phương pháp học, mục đích học tập của tác giả. Muốn vậy giáo viên cần giải thích rõ câu châm ngôn “Ngọc không mài không thành đồ vật, người không học không biết rõ đạo” hay các lối học “hình thức, cầu danh lợi, không biết tam cương ngũ thường” và phương pháp học tập đúng đắn. Như thế học sinh sẽ nắm được sự tiến bộ trong quan điểm của Nguyễn Thiếp. Nói tóm lại, mỗi thể loại văn nghị luận cổ có những đặc trưng riêng, khi giảng dạy các từ ngữ trong từng thể loại, giáo viên cần chú ý đến những đặc trưng cơ bản đó để giúp học sinh tiếp thu bài hiệu quả hơn. 2.7. Dùng sơ đồ tổng kết bài học. Do đặc điểm các văn bản đều thuộc văn nghị luận nên trong quá trình giảng dạy, giáo viên luôn bám sát hệ thống luận điểm, luận cứ và nghệ thuật lập luận đầy sức thuyết phục. Vì thế việc lập sơ đồ không chỉ để học sinh nắm bắt nội dung mà còn có thể biết cách làm văn nghị luận. Ví dụ: Hệ thống luận điểm trong “Chiếu dời đô” Ý TƯỞNG DỜI ĐÔ TỪ HOA LƯ VỀ ĐẠI LA LÝ DO DỜI ĐÔ KHỎI HOA LƯ Ý CHÍ ĐỊNH ĐÔ MỚI Ở ĐẠI LA Gương Thực tế hai Những lợi thế của Đại La sáng đời triều Đinh xưa và Lê Lịch sử Trung Về lịch sử Về địa lý Về tiềm năng Đóng đô mãi ở Cao Vương Thuận lợi Hoa có nhiều Kính tế, văn một nơi nên gặp từng định nhiều mặt hoá phát triển lần dời đô khó khăn đô (Thương, Chu) - Đất nước phát Đất nước không Ý CHÍ CỦA NHÀ VUA: triển phát triển, tồn tại - Quyết định dời đô. - Các triều đại ngắn ngủi - Hỏi ý kiến bề tôi. tồn tại lâu dài
  17. 18 Hệ thống lập luận trong bài “Hịch tướng sĩ” Khích lệ ý chí lập công danh, xả thân vì nước, vì chủ tướng bằng cách nêu ra những tâm gương trung thần thời xưa. Khích lệ lòng căm thù giặc, nỗi nhục mất nước bằng cách vạch trần và tố cáo tội ác, Khích lệ lòng yêu nước bất khuất, quyết thái độ của giặc trên đất nước mình chiến quyết chiến thắng kẻ thù xâm lược; đánh bại tư tưởng thờ ơ, xa lánh, Khích lệ lòng trung quân ái quốc bằng cách bàng quan để sẵn sàng bước vào cuộc khơi gợi những ân tình của chủ tướng đã chiến đấu sinh tử. dành cho tướng sĩ. Khích lệ lòng tự trọng, liêm sỉ ở mỗi người khi nhận rõ cái sai thấy rõ điều đúng bằng thái độ phê phán, nghiêm khắc. Hệ thống lập luận trong bài “Nước Đại Việt ta” NGUYÊN LÍ NHÂN NGHĨA Yên dân Trừ bạo Bảo vệ đất nước Giặc Minh xâm lược để yên dân CHÂN LÍ VỀ SỰ TỒN TẠI ĐỘC LẬP CÓ CHỦ QUYỀN CỦA DÂN TỘC ĐẠI VIỆT Văn hiến Lãnh thổ Phong Lịch sử Chế độ, chủ lâu đời riêng tục riêng riêng quyền riêng SỨC MẠNH CỦA NHÂN NGHĨA SỨC MẠNH CỦA ĐỘC LẬP DÂN TỘC
  18. 19 Hệ thống lập luận bài “Bàn luận về phép học” Không thể không Học tập giúp con học tập mà thành Học tập là qui luật người tốt đẹp người tốt của cuộc sống MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC HỌC: HỌC ĐẠO LÀM NGƯỜI TỐT Phê phán những lệch lạc, sai trái Khẳng định quan điểm; phương trong việc học hiện tại pháp học tập đúng đắn Tác dụng: - Nhiều người tốt - Triều đình ngay ngắn - Thiên hạ thịnh trị 2.8. Hướng dẫn học sinh liên hệ nội dung tác phẩm với cuộc sống thực tại. Sẽ vô cùng buồn tẻ nếu học sinh chỉ biết rằng mình đang học những tác phẩm của người xưa, những câu chuyện của cha ông trong quá khứ mà các em không tìm thấy ý nghĩa trong hiện tại. Giáo viên phải là người dẫn các em trở về với chân trời đầu tiên để khám phá, chiếm lĩnh tác phẩm. Rồi từ chân trời đầu tiên ấy, giáo viên phải đưa các em về với hiện tại thì tác phẩm văn học mới có ý nghĩa nhất là các tác phẩm văn học trung đại, công việc ấy sẽ tạo nên sự kết nối giữa cha ông và thế hệ hôm nay. Ví dụ Dạy “Chiếu dời đô” liên hệ đến việc tìm hiểu về quá trình phát triển cũng như những thành tựu của nền văn hóa Thăng Long để thấy được cái tâm và cái tầm của vua Lí Thái Tổ; liên hệ đến việc bảo tồn di tích lịch sử văn hóa. Từ đó khơi dậy niềm kiêu hãnh và tự hào dân tộc. Từ chân lý khách quan về sự tồn tại độc lập có chủ quyền của quốc gia Đại Việt trong “Nước Đại Việt ta” sẽ giúp các em biết ý thức rằng mình phải có trách nhiệm trong việc giữ gìn độc lập chủ quyền của dân tộc trong thời điểm nhạy cảm hiện nay. Dạy “Bàn luận về phép học” của Nguyễn Thiếp, giáo viên giúp các em nhận ra lối học của chính mình cũng như bạn bè mình, để thấy được đâu là lối học đúng cần phát huy, đưa các em về với mục đích học tập chân chính.
  19. 20 Dạy “Hịch tướng sĩ” không chỉ khơi dậy niềm kiêu hãnh và tự hào dân tộc về một quá khứ vàng son mà còn giúp học sinh có nhận thức đúng đắn về vấn đề bảo vệ đất nước trong thời điểm nhạy cảm hiện nay. Liên hệ với tín ngưỡng thờ cúng Trần Hưng Đạo ở khắp nơi trên đất nước để học sinh thấy được đức độ cao cả của ông. 3. Đánh giá đề tài Thực tế áp dụng kinh nghiệm: “Giải pháp nâng cao chất lượng dạy học văn bản nghị luận trung đại môn Ngữ văn lớp 8 ở trường Trung học cơ sở Trần Đại Nghĩa”, trong quá trình giảng dạy tôi thấy các em thực sự hứng thú với các tiết văn học nghị luận trung đại. Học sinh tiếp thu kiến thức một cách thoải mái, mạnh dạn phát biểu và có hứng thú nghe, tìm hiểu các vấn đề mà các tác giả đặt ra trong văn bản nhất là khi giáo viên khơi dậy được niềm tự hào dân tộc qua văn bản Chiếu, Hịch, Cáo và liên hệ được phương pháp học của Nguyễn Thiếp với thực tế. Một số học sinh còn mạnh dạn hỏi những thắc mắc của mình ví dụ như: Tại sao đánh quân Minh mà tác giả viết “Bình Ngô đại cáo” (Nước Đại Việt ta) hay hai nhà Đinh – Lê có thực sự không tuân theo mệnh trời như Lí Công Uẩn nói không?... hay học sinh đã tìm ra được quan điểm tiến bộ và hạn chế cần bổ sung của Nguyễn Thiếp về mục đích và phương pháp học tập của Nguyễn Thiếp, để quan điểm ấy gần với ngày nay. Học sinh cũng biết liên hệ các vấn đề mà các tác giả đặt ra trong văn bản với thực tiễn ví dụ như: Vấn đề chủ quyền của đất nước trong tình hình hiện nay... 4. Tổ chức thu thập minh chứng Sau đây tôi xin đưa ra chất lượng bài kiểm tra Văn bản nghị luận trung đại của lớp 8/3 trường THCS Trần Đại Nghĩa trước khi áp dụng kinh nghiệm và sau khi áp dụng kinh nghiệm. LỚP 8/3 Điểm kiểm tra Điểm kiểm tra sau Họ và tên trước khi TT khi áp dụng kinh áp dụng kinh nghiệm nghiệm 1 Đoàn Xuân An 4,3 5,8 2 Huỳnh Gia Bảo 7,0 8,3
  20. 21 3 Anh Duy Bernard 4,0 5,5 4 Ngô Thái Bình 8,3 9,0 5 Nguyễn Quốc Đạt 4,5 6,3 6 Nguyễn Hoàng Đức 5,0 6,3 7 Lê Thảo Giang 5,5 7,0 8 Nguyễn Ngọc Bảo Hân 6,5 7,8 9 Lại Hồ Thanh Hiền 7,8 9,0 10 Nguyễn Thanh Xuân Hiền 6,3 7,5 11 Phạm Quốc Hoàng 6,0 7,3 12 Nguyễn Thị Hồng Huệ 6,0 7,5 13 Lê Hoàng Huy 6,5 7,5 14 Nguyễn Anh Khoa 5,0 6,0 15 Nguyễn Trung Kiên 5,8 6,8 16 Trần Hoàng Gia Linh 8,0 9,0 17 Lê Thiên Ngân 8,3 9,0 18 Trương Thị Hồng Ngân 6,0 7,8 19 Lê Việt Nhật 5,5 7,0 20 Đinh Lê Ngọc Trúc Nhi 6,8 7,8 21 Nguyễn Ngọc Yến Nhi 7,5 8,0 22 Nguyễn Thị Kiều Oanh 4,0 5,8