Sáng kiến kinh nghiệm Những giải pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử 8 - Nguyễn Thị Duyên Miền

docx 24 trang vantien 30/03/2026 1270
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Những giải pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử 8 - Nguyễn Thị Duyên Miền", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_nhung_giai_phap_boi_duong_hoc_sinh_gio.docx

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Những giải pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử 8 - Nguyễn Thị Duyên Miền

  1. BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN 1. Lời giới thiệu: Bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử luôn là công việc được các cấp quản lý và các giáo viên giảng dạy rất quan tâm. Đây là công tác giúp cho nhà trường và ngành giáo dục phát hiện và bồi dưỡng những nhân tài, đồng thời góp phần định hướng học tập cho các em khi vào học khối trung học phổ thông. Chất lượng mũi nhọn là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng giáo dục của các trường. Như vậy, công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một nhiệm vụ chuyên môn trọng tâm, góp phần khẳng định chất lượng giáo dục của bộ môn lịch sử và uy tín của giáo viên nói riêng và uy tín của nhà trường nói chung. Là một giáo viên dạy lịch sử đã từng tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi dự thi các cấp, tôi mạnh dạn trình bày sáng kiến “Những giải pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử 8” nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử lớp 8 ở trường THCS Trung Kiên. 2. Tên sáng kiến: Những giải pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử 8 3. Tác giả sáng kiến: - Họ và tên: Nguyễn Thị Duyên Miền - Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường THCS Trung Kiên, Yên Lạc, Vĩnh Phúc. - Số điện thoại: 0349599206. - E_mail: [email protected] 4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Nguyễn Thị Duyên Miền 5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Lịch sử lớp 8. 6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Tháng 1 năm 2023. 7. Mô tả về bản chất của sáng kiến: 7.1. Phần 1. Mở đầu 7.1.1. Bối cảnh của đề tài/giải pháp Dạy lịch sử có ưu thế lớn trong việc giáo dục đạo dức, phẩm chất công dân cho học sinh. Trong quá trình dạy học tôi luôn muốn phát huy tốt nhất khả năng của học sinh, giúp các em có niềm yêu thích lịch sử, nhất là các em học sinh giỏi Giáo dục mũi nhọn của nhà trường là tiêu chí đánh giá quan trọng chất lượng giáo viên, chất lượng giáo dục của nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tỉnh Vĩnh Phúc. Vì vậy, tôi luôn cố gắng tìm ra những giải pháp cho bản thân và học sinh để nâng cao chất lượng môn học nói chung và chất lượng học sinh giỏi môn lịch sử nói riêng. 7.1.2. Lý do chọn đề tài/giải pháp 1
  2. Huyện Yên Lạc rất chú trọng đầu tư và đặc biệt quan tâm đến chất lượng giáo dục. Đồng thời với nhiệm vụ nâng cao chất lượng đại trà, việc nâng cao chất lượng giáo dục mũi nhọn cũng được chú ý quan tâm. Ở cấp THCS hiện nay công tác bồi dưỡng học sinh giỏi đều được các trường rất quan tâm song vẫn còn một số hạn chế trong cách tuyển chọn, phương pháp học tập. Từ những hạn chế trên mà hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử chưa được như mong đợi. Tôi lựa chọn đề tài này để tìm ra những giải pháp thích hợp cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử lớp 8 đạt được kết quả tốt nhất. Từ đó thu hút được nhiều các em học sinh giỏi ở lớp sau yêu thích và lựa chọn theo học, qua đó nâng cao kết quả giáo dục mũi nhọn của nhà trường nói chung. 7.1.3. Phạm vi đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: sách giáo khoa lịch sử lớp 8 và học sinh lớp 8 tham gia đội tuyển học sinh giỏi môn lịch sử của trường THCS Trung Kiên. 7.1.4. Mục đích nghiên cứu Khi lựa chọn đề tài này, tôi hướng đến mục đích nghiên cứu là: tìm ra những giải pháp thích hợp cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử lớp 8 đạt được kết quả tốt nhất. 7.1.5. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu 7.1.5.1. Tính mới Nội dung của đề tài là sự tìm tòi, nghiên cứu, đúc kết kinh nghiệm từ chính thực tế dạy học của bản thân và đã được thực nghiệm cho kết quả khả quan trong năm học 2022 - 2023. Sáng kiến đã đưa ra các giải pháp mang tính mới, sáng tạo: Nâng cao năng lực đọc hiểu truyện cổ tích cho học sinh lớp 6 qua một số giải pháp như: hương dẫn học sinh một số chiến lược đọc truyện cổ tích (đọc theo dõi, đọc dự đoán, đọc tưởng tượng); sử dụng tranh minh hoạ, phiếu học tập vào khai thác các giá trị của tác phẩm, . Hướng dẫn học sinh vận dụng bài học rút ra để liên hệ bản thân những việc cần làm và không làm trong cuộc sống. Qua đó phát huy tối đa nhiều năng lực, phẩm chất quan trọng của người học đáp ưng yêu cầu trong thời kì mới. 7.1.5.2. Tính sáng tạo Sáng kiến có khả năng áp dụng phổ biến với tất cả các đối tượng học sinh lớp giỏi lớp 8. Phát huy được các năng lực học tập của học sinh: năng lực tiếp nhận và giải quyết vấn đề; năng lực sáng tạo. Học sinh rèn các kĩ năng làm bài thi học sinh giỏi. Đề tài góp phần nâng cao chất lượng sinh giỏi lớp 8. 7.2. Phần 2. Phần nội dung 7.2.1. Cơ sở lý luận Lịch sử là những gì diễn ra trong quá khứ, lịch sử còn được hiểu là một khoa học nghiên cứu và phục dựng lại quá khứ. Môn lịch sử trong nhà trường phổ 2
  3. thông giúp các em tìm hiểu về lịch sử của xã hội loài người từ khi con người xuất hiện trên trái đất đến nay. Dân tộc Việt Nam ta có lịch sử hào hùng trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Nhân dân ta cũng rất coi trọng việc giáo dục lịch sử cho mọi người đặc biệt là thế hệ trẻ như lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh: “ Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Các thầy cô dạy môn lịch sử phải nhận thức đúng đắn, sâu sắc vị trí của bộ môn lịch sử ở trường THCS, tìm ra các biện pháp nâng cao chất lượng bộ môn. Việc bồi dưỡng học sinh giỏi lịch sử không phải là đòi hỏi học sinh ghi nhớ các thật nhiều các sự kiện lịch sử, mà quan trọng hơn là trên cơ sở những kiến thức về sự kiện lịch sử các em biết phân tích, so sánh, rút ra đắc điểm và ý nghĩa của sự kiện, biết liên hệ để với hiện tại. Làm thế nào để có nhiều học sinh tham gia học đội tuyển học sinh giỏi, nhiều học sinh đạt thành tích cao trong các kỳ thi giao lưu học sinh giỏi lịch sử lớp 8, điều đó đòi hỏi ở giáo viên phải có chuyên môn vững vàng, tinh thần trách nhiệm cao và phương pháp giảng dạy đúng đắn, sáng tạo. Đây là cơ sở lý luận để tôi trình bày, tìm ra phương pháp nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 8, qua đó khẳng định chất lượng giáo dục mũi nhọn của nhà trường, uy tín của giáo viên và giúp các em học sinh yêu quý và học tập bộ môn lịch sử. 7.2.2. Cơ sở thực tiễn. - Thuận lợi: + Môn lịch sử giúp học sinh tìm hiểu về bản thân, gia đình, dòng tộc, về lịch sử của dân tộc mình và rộng ra là cả nhân loại. Vì vậy, môn lịch sử có ưu thế trong việc giáo dục những phẩm chất tốt đẹp cho những công dân tương lai của đất nước như: lòng yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc, yêu lao động, yêu chuộng hoà bình + Sự quan tâm của Phòng giáo dục huyện Yên Lạc, của chính quyền địa phương, của nhà trường luôn tạo điều kiện tốt nhất về vật chất cũng như tinh thần để giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi đạt kết quả tốt nhất. + Thầy, cô giáo bồi dưỡng các đội tuyển trong trường tích cực, cởi mở trao đổi về phương pháp chọn lọc, giảng dạy bồi dưỡng học sinh giỏi góp phần nâng cao chất lượng mũi nhọn của môn lịch sử lớp 8. Đặc biệt các thầy cô có cùng chuyên ngành thường xuyên trao đổi, trợ giúp giáo viên bồi dưỡng nhằm mục tiêu chung là giành kết quả cao nhất. + Một bộ phận học sinh yêu thích, quyết tâm thi vào đội tuyển học sinh giỏi lịch sử của trường để ôn luyện thi cấp huyện, cấp tỉnh, giành được giải thưởng trong quảng thời gian học THCS. - Khó khăn. 3
  4. + Một số phụ huynh cho rằng môn lịch sử là “môn phụ”, vì vậy nếu học giỏi cũng không phục vụ được nhiều nhu cầu ngành nghề trong xã hội. + Kiến thức lịch sử đòi hỏi phải hoàn toàn chính xác về thời gian, địa điểm nên dễ gây tâm lý sợ phải học thuộc, dễ nhầm lẫn của học sinh. Nhiều bài học trong sách giáo khoa còn nặng về kiến thức chính trị, quân sự khô khan, ít hấp dẫn đối với lứa tuổi học sinh trung học cơ sở. + Đề thi học sinh giỏi thường có những thay đổi, đòi hỏi ngày càng cao sự tư duy của học sinh. Điều đó đòi hỏi sự tìm tòi không ngừng của cả thầy và trò trong quá trình ôn luyện nhằm đạt được kết quả tốt nhất. + Qúa trình lựa chọn học sinh học cũng khó khăn do quy mô trường nhỏ, hạn chế về nhân lực vì các em lại phải chia ra 8 môn thi học sinh giỏi ở lớp 8. Khi tham gia bồi dưỡng, giáo viên có chuyên môn, nhiệt huyết nhưng kết quả lại phụ thuộc vào rất nhiều từ học sinh là người có tố chất học tập hay khả năng tập trung, vượt khó, chịu áp lực + Cạnh tranh ngày càng khốc liệt trong các lĩnh vực là điều tất yếu, do đó dù khó khăn tôi vẫn luôn đồng hành cùng các em, mong muốn phát huy tốt nhất khả năng của các em. Từ thực tiễn đó, tôi chọn đề tài “Những giải pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử 8” nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử lớp 8 ở trường THCS Trung Kiên, đồng thời muốn chia sẻ với các đồng nghiệp một số kinh nghiệm nhỏ về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử lớp 8. 7.2.3. Các giải pháp được sử dụng để giải quyết vấn đề. 7. 2.3.1. Phát hiện và chọn học sinh giỏi môn lịch sử Phát hiện và tuyển chọn học sinh giỏi là khâu rất quan trọng, quyết định phần lớn kết quả thi học sinh giỏi của bộ môn nên tôi dành nhiều thời gian và công sức cho giai đoạn này. Tôi cũng gặp nhiều khó khăn do trở ngại từ tâm lý chung của phụ huynh cũng như học sinh coi đây là “ môn phụ”, đồng thời các em có khả năng học tập tốt nhất của các lớp trong thời gian học lớp 6, lớp 7 là học sinh giỏi của ba môn toán, ngữ văn và tiếng anh, đến lớp 8 các em mới thi 8 môn trong đó có môn lịch sử nên niềm đam mê các em với các môn học đó khá cao, chuyển các em sang đội tuyển lịch sử sẽ khiên cưỡng. Học sinh được chọn để tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi lịch sử theo tôi cần có những phẩm chất quan trọng như: yêu thích bộ môn lịch sử, tư duy tốt, có tinh thần trách nhiệm cao với việc học tập, cần cù, chịu được áp lực học hành, thi cử. Vì vậy, tôi đã áp dụng rất nhiều giải pháp một cách linh hoạt để chọn lựa các học sinh tham gia ôn luyện học sinh giỏi lịch sử lớp 8 như sau: a. Lựa chọn từ việc giảng dạy trên lớp. Trong các tiết dạy học ở trên lớp, tôi luôn chú ý quan sát thái độ học tập của cả lớp, chú ý tới các em học sinh hay phát biểu xây dựng bài. Để phát hiện 4
  5. các em học sinh có tư duy tốt tôi cũng thường đưa ra những câu hỏi khó, đòi hỏi học sinh phải tư duy nhiều hơn để trả lời. Đồng thời sau mỗi tiết học tôi đều khuyến khích học sinh đưa ra những thắc mắc của mình, sau đó sẽ mời các học sinh khác giải đáp, cuối cùng sẽ chốt lại nhằm giải thích rõ hơn cho cả lớp về vấn đề học sinh nêu ra. Ngoài các bài tập trong sách giáo khoa, thỉnh thoảng tôi sẽ đưa ra các bài tập đòi hỏi việc học sinh tìm hiểu thêm kiến thức ở ngoài sách giáo khoa làm ra vở ghi và sẽ kiểm tra vào đầu buổi học lần sau. Thông qua sự quan sát và những nhiệm vụ học tập như vậy tôi sẽ phát hiện ra các em có niềm yêu thích đối với môn lịch sử, các em có tư duy tốt hoặc có tinh thần trách nhiệm với việc học tập. Một ví dụ cụ thể là: Sau khi học xong bài 25 “Kháng chiến lan rộng ra toàn quốc (1873-1884), tôi cho học sinh nêu vấn đề mà em chưa hiểu, một học sinh đã nêu ra vấn đề: ban đầu khi thực dân Pháp đánh ta, họ đã bị thua ở Đà Nẵng nhưng sau đó họ lại chuyển bại thành thắng và chiếm được nước ta năm 1884, còn chúng ta thì ngược lại ban đầu thắng mà cuối cùng lại mất nước? tôi đã cho các học sinh khác trong lớp lý giải thắc mắc của bạn theo nhiều ý kiến khác nhau và chốt lại vấn đề, như vậy các em hiểu được sự thay đổi trong phương hướng chiến tranh của thực dân Pháp thể hiện sự khôn ngoan, dày dạn kinh nghiệm của thực dân Pháp và sự bất lực và lún sâu vào sai lầm trong con đường kháng chiến của nhà Nguyễn. Cũng từ đó, tôi cho học sinh viết một đoạn văn ngắn thể hiện quan điểm của em trước vấn đề : trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc để mất nước ta vào tay thực dân Pháp, tôi sẽ thu lại các phiếu trả lời của các em, hẹn các em về nhà tìm hiểu thêm và sẽ cùng thảo luận vào đầu giờ học sau. Sau tiết học tôi sẽ chấm điểm và cho điểm các em có phần trả lời tốt, phần thảo luận của giờ sau cũng cho điểm cho các em đã đầu tư thời gian công sức tìm hiểu sâu hơn vấn đề. Vì học sinh giỏi là người không chỉ nắm vững kiến thức cơ bản mà phải biết tư duy để thông hiểu và vận dụng kiến thức lịch sử để liên hệ nên các hoạt động này giúp các em yêu thích môn học và rèn luyện tư duy để học tốt môn lịch sử. b. Lựa chọn từ các bài kiểm tra viết. Thực tế trong giảng dạy bộ môn tôi thấy có một số học sinh có hiểu biết, tư duy tốt nhưng các em khá trầm, ít khi giơ tay phát biểu xây dựng bài. Vì vậy, trong các tiết kiểm tra viết tôi thường cho học sinh làm bài thật nghiêm túc. Khi thu bài chấm, tôi sẽ đánh giá khách quan, công bằng, tìm ra các học sinh gian lận nhìn bài của bạn (nếu có), tìm ra các bài có phần trả lời chính xác, trình bày chữ viết sạch đẹp và rõ ràng, tư duy sáng tạo nêu gương trước lớp để biểu dương em học sinh đó, qua đây phát hiện ra học sinh có tố chất. c. Tham khảo ý kiến giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm. Với học sinh giáo viên chủ nhiệm là người luôn chăm sóc, quan tâm, gần gũi nhất với các em, là người hiểu tâm tư, nguyện vọng cũng như thế mạnh của 5
  6. từng em. Vì vậy, tham khảo từ giáo viên chủ nhiệm sẽ cho tôi nhiều thông tin bổ ích về gia đình, nguyện vọng của học sinh giúp ích cho việc tuyển chọn chính xác học sinh để ôn luyện. Tham khảo từ các giáo viên bộ môn cũng là điều rất cần thiết. Bộ môn lịch sử với rất nhiều sự kiện, đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối nên tôi luôn để ý tới các em có kết quả học tốt môn tự nhiên làm ưu tiên, các em học tốt các môn tự nhiên cũng có khả năng tư duy tốt. Hoặc nếu học sinh được chọn mà học yếu môn ngữ văn thì tôi phải rèn luyện cho em nhiều về phần trình bày bài viết, sắp xếp câu từ cho khoa học, dễ hiểu. Vì học sinh giỏi lịch sử không chỉ cần nhớ được các sự kiện, mà quan trọng hơn là khả năng tự học, tư duy sáng tạo nên việc tham khảo ý kiến của giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn được tôi thực hiện sớm. d. Lựa chọn qua kết quả học tập của học sinh ở lớp 6, lớp 7. Ở trường tôi là giáo viên lịch sử duy nhất, đảm nhận dạy học ở tất cả các khối lớp từ khối 6 đến khối 9, tuy có nhiều vất vả nhưng có lợi thế là giúp tôi đánh giá quá trình học tập môn lịch sử của các em từ lớp 6, lớp 7 để lựa chọn học sinh giỏi cho lớp 8. Tôi sẽ lựa chọn những em có điểm số học tập cao kết hợp với quá trình học tập thực tế ở trên lớp để sàng lọc chính xác hơn các em có tiểm năng để đưa vào đội tuyển bồi dưỡng và sàng lọc thêm. e. Lựa chọn qua hoạt động ngoại khoá, trải nghiệm, hướng nghiệp Thông qua các hoạt động ngoại khoá có chủ đề về lịch sử do nhà trường tổ chức hoặc của bộ môn lịch sử cũng giúp tôi nhận diện được các học sinh có đam mê, năng khiếu về lịch sử. - Vào tháng 2, tháng 3: sinh hoạt ngoại khoá về sự kiện thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ chí Minh - Vào tháng 4: sinh hoạt với chủ đề kỉ niệm ngày giải phóng miền Nam - Vào tháng 5: sinh hoạt ngoại khoá về kỉ niệm ngày 19 – 5 sinh nhật Bác - Tháng 9: ngoại khoá về kỉ niệm quốc khánh nước Việt Nam - Tháng 12. ngoại khoá về kỉ niệm thành lập quân đội nhân dân Việt Nam. Mỗi buổi ngoại khoá do trường tổ chức cũng như của bộ môn lịch sử sẽ có nhiều hoạt động như kể chuyện lịch sử về nguồn gốc các sự kiện, các hoạt động giới thiệu sách, vẽ tranh để làm tốt các em cần học tập nhiều kiến thức lịch sử ở ngoài sách vở, khơi dậy hứng thú, niềm yêu thích và năng khiếu học tập môn lịch sử của các em. Hoạt động hướng nghiệp cũng giúp các em thể hiện định hướng nghề nghiệp trong tương lai. Khi tổ chức nhắm việc lựa chọn học sinh giỏi vào các học sinh có xu hướng nghề nghệp sau này gắn với các môn xã hội, vì đó là nền tảng đầu tiên giúp các em gắn bó và dốc hết tâm huyết vào việc ôn luyện học sinh giỏi lịch sử. 6
  7. Trong các tiết dạy ngoại khoá của môn lịch sử giáo viên có thể cho các em đến các địa điểm di tích ở địa phương hoặc thông qua mô hình bảo tàng 3D, hay giới thiệu các đoạn phim tư liệu về các nhân vật, sự kiện lịch sử để tăng sự hấp dẫn của bộ môn với tất cả học sinh. Trong một số buổi ngoại khoá giáo viên có thể giao nhiệm vụ cho một số em có kiến thức tốt về lịch sử chuẩn bị để trình bày trước cả lớp, tăng sự thu hút các học sinh khác ở trong lớp lắng nghe và các em học sinh giỏi cũng được thể hiện bản thân, được các bạn công nhận. f. Cho các em tự ứng cử vào đội tuyển HSG lịch sử Cuối năm lớp 7, tôi sẽ hỏi cả lớp có em nào năm tới muốn tham gia ôn luyện học sinh giỏi lịch sử 8 thì đăng ký với cô. Việc cho học sinh đăng ký trước lớp giúp các em thể hiện sự tự tin, cũng để các bạn trong theo dõi sự tiến bộ về khả năng học tập bộ môn lịch sử của các bạn trong đội tuyển đối với các bạn khác ở trong lớp. Học sinh ở trong đội tuyển phải là học sinh học dần vươn lên học tốt nhất về môn lịch sử ở trong lớp, trong khối. Đồng thời, cũng là chuẩn bị tâm lý cũng như tranh thủ một chút thời gian nghỉ hè hết năm lớp 7, chuẩn bị lên lớp 8 của các em để ôn luyện những kiến thức cơ bản ở lớp 6, lớp 7 làm nền cho kiến thức học sinh giỏi lịch sử lớp 8. j. Gặp trực tiếp các em Sau khi lựa chọn xong tôi sẽ tiến hành gặp mặt riêng các em để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của các em, giới thiệu các bạn trong đội tuyển với nhau. Đồng thời khơi dậy cho các em niềm đam mê học tập, chinh phục thử thách, phân tích cho các em về niềm tự hào, định hướng nghề nghiệp trong tương lai trên cơ sở nguyện vọng và thế mạnh bản thân cho các em. Việc gặp mặt này cũng được thực hiện thường xuyên trong quá trình bồi dưỡng để kịp thời điều chỉnh cảm xúc và nâng cao hiệu quả học tập của các em HSG. 7.2.3.2. Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 8 a. Xây dựng khung chương trình Để bồi dưỡng học sinh giỏi đạt kết quả cao, tôi chủ động lựa chọn kiến thức cẩn thận để xây dựng khung chương trình và lập đề cương ôn tập dựa vào : - Kế hoạch, khung chương trình thi HSG khối lớp 8 của phòng giáo dục Yên Lạc và của nhà trường. - Các tài liệu: sách giáo khoa, sách giáo viên lịch sử lớp 8, các tài liệu bồi dưỡng HSG lịch sử tham khảo. Từ các căn cứ trên đây, tôi đã xây dựng khung chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 8 như sau: - Lịch sử thế giới cận đại từ 1566 – 1917 và lịch sử thế giới hiện đại từ 1917- 1945 - Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 đến năm 1918 b. Xây dựng đề cương bồi dưỡng học sinh giỏi 7
  8. Dựa vào khung chương trình vừa xây dựng, căn cứ vào kiến thức, chương trình bộ môn, cấu trúc và các dạng đề thi học sinh giỏi lịch sử lớp 8 và lớp 9 ở các năm học trước mà phòng giáo dục Yên Lạc và tham khảo các huyện khác tôi đã xây dựng đề cương bồi dưỡng học sinh giỏi lịch sử lớp 8 cấp huyện như sau: Phần lịch sử lớp 6, lớp 7 tôi yêu cầu các em nắm chắc những nội dung cơ bản ở trong sách giáo khoa. Đây chính là phần kiến thức nền tảng quan trọng giúp các em tiếp tục học phần lịch sử lớp 8 một cách hệ thống, logic. Cấu trúc đề cương gồm: kiến thức cơ bản và phần bài tập nâng cao, cụ thể như sau: Thứ nhất: Phần lịch sử thế giới cận đại từ năm 1566 đến năm 1917. *Chuyên đề 1. Thời kì xác lập của chủ nghĩa tư bản (từ giữa thế kỉ XVI đến nửa sau thế kỉ XIX) - Những chuyển biến lớn về kinh tế, chính trị, xã hội châu Âu trong các thế kỉ XVI – XVII - Cách mạng Hà Lan: nguyên nhân, diễn biến, kết quả, ý nghĩa lịch sử. - Cách mạng tư sản Anh: nguyên nhân, diễn biến, kết quả, ý nghĩa lịch sử và hạn chế của cách mạng tư sản Anh. - Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ, sự ra đời của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ - Cách mạng tư sản Pháp: nguyên nhân, diễn biến, kết quả, ý nghĩa lịch sử to lớn của cách mạng Pháp đối với nước Pháp và thế giới. - Cách mạng công nghiệp: nguyên nhân, thành tựu tiêu biểu và tác động - Phong trào công nhân và sự ra đời của chủ nghĩa Mác * Chuyên đề 2:Các nước Âu - Mĩ cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX - Công xã Pa-ri 1871: nguyên nhân, sự thành lập công xã, một số chính sách quan trọng và ý nghĩa lịch sử của công xã. - Các nước Anh, Pháp, Đức, Mĩ cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX: sự phát triển kinh tế, những đặc điểm chính trị - xã hội, chính sách xâm lược thuộc địa, đặc điểm của từng đế quốc. - Phong trào công nhân quốc tế cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX: Cuộc đấu tranh của công nhân các nước (nguyên nhân, diễn biến, kết quả), phong trào công nhân Nga và sự phát triển chủ nghĩa Mác của Lê – nin. - Những thành tựu về kĩ thuật, khoa học, văn học và nghệ thuật thế kỉ XVIII-XIX. * Chuyên đề 3. Châu Ấ thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XX - Ấn Độ thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XX: sự xâm nhập và thống trị của thực dân Anh, phong trào đấu tranh của nhân dân Ấn Độ - Trung Quốc giữa thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX.: sự xâu xé Trung Quốc của các nước thực dân phương Tây, các cuộc đấu tranh của nhân dân Trung Quốc cuối thế kỉ XIX, Cách mạng Tân Hợi (nguyên nhân, diễn biến, kết quả, ý nghĩa, tính chất, hạn chế) 8
  9. - Các nước Đông Nam Á cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX: sự xâm lược của các nước thực dân phương Tây và phong trào đấu tranh của nhân dân - Nhật Bản giữa thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX: cuộc Duy tân Minh Trị (nguyên nhân, nội dung, ý nghĩa, tính chất), quá trình Nhật Bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. * Chuyên đề 4. Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) - Nguyên nhân, diễn biến, hệ quả của chiến tranh thế giới thứ nhất Thứ hai: Phần lịch sử thế giới hiện đại (từ năm 1917 đến năm 1945) * Chuyên đề 1: Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội (1921-1941) - Cách mạng tháng Hai: diễn biến, kết quả - Cách mạng tháng Mười: nguyên nhân, diễn biến, kết quả, ý nghĩa lịch sử, so sánh cách mạng tư sản và cách mạng vô sản. - Chính sách kinh tế mới: nguyên nhân, nội dung, kết quả, ý nghĩa, tác động, bài học kinh nghiệm - Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô: thành tựu, ý nghĩa, hạn chế * Chuyên đề 2. Châu Âu và nước Mĩ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới - Châu Âu và nước Mĩ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới: + Tình hình châu Âu sau chiến tranh thế giới thứ nhất + Sự bùng nổ phong trào cách mạng và thành lập quốc tế cộng sản + Khủng hoảng kinh tế 1929-1933: nguyên nhân, diễn biến, hệ quả, xuất hiện chủ nghĩa phát xít và phong trào đấu tranh bảo vệ hoà bình thế giới. - Nước Mĩ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới: + Sự phát triển phồn vinh của nước Mĩ sau chiến tranh thế giới thứ nhất và đạt tới thời hoàng kim vào thập niên 20 + Kinh tế phát triển nhưng mâu thuẫn xã hội và các cuộc đấu tranh của người lao động không ngừng tăng cao + Khủng hoảng kinh tế 1929 -1933 từ Mĩ lan ra toàn bộ thế giới tư bản, hệ quả, chính sách mới của tổng thống F. Rudoven (nội dung, kết quả, ý nghĩa) * Chuyên đề 3. Châu Á giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918-1939) - Nhật Bản giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918-1939) + Tình hình Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ nhất + Hệ quả của khủng hoảng kinh tế 1929-1933 đối với Nhật Bản, sự xuất hiện chủ nghĩa quân phiệt, Nhật Bản trở thành lò lửa chiến tranh ở châu Á – Thái Bình Dương. - Phong trào giải phóng dân tộc ở Ấn Độ, Trung Quốc, Đông Nam Á giữa hai cuộc chiến tranh thế giới. * Chuyên đề 4. Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945) 9
  10. - Nguyên nhân bùng nổ của chiến tranh, điểm khác biệt so với chiến tranh thế giới thứ nhất - Diễn biến, kết quả - Tính chất của chiến tranh thế giới thứ hai, so sánh với tính chất của chiến tranh thế giới thứ nhất * Chuyên đề 5. Sự phát triển của khoa học kĩ thuật và văn hoá thế giới nửa đầu thế kỉ XX. - Các thành tựu khoa học- kĩ thuât nửa đầu thế kỉ XX - Nền văn hoá Xô viết hình thành và phát triển Thứ ba. Phần lịch sử Việt Nam từ năm 1858 đến năm 1918 * Chuyên đề 1. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp từ năm 1858 đến cuối thế kỉ XIX. - Cuộc kháng chiến từ năm 1858 đến năm 1873 + Nguyên nhân thực dân Pháp xâm lược Việt Nam + Chiến sự ở Đà Nẵng: diễn biến, kết quả, ý nghĩa + Chiến sự ở Gia định: diễn biến, kết quả. + Hiệp ước Nhâm Tuất: bối cảnh, nội dung, hệ quả + Cuộc kháng chiến của nhân dân ta ở Đà Nẵng, ba tỉnh miền Đông sau đó lan ra 3 tỉnh miền Tây Nam Kì: thời gian, người lãnh đạo, kết quả, ý nghĩa lịch sử. - Kháng chiến lan rộng ra toàn quốc (1873-1884) + Thực dân Pháp đánh Bắc Kì lần thứ nhất: diễn biến, cuộc đấu tranh của nhân dân ta ở Hà Nội và các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng + Trận Cầu Giấy lần 1: nguyên nhân, lãnh đạo, diễn biến, kết quả, ý nghĩa lịch sử + HIệp ước Giáp Tuất: bối cảnh, nội dung, hệ quả + Thực dân Pháp đánh Bắc Kì lần hai: diễn biến, cuộc đấu tranh của nhân dân ta ở Hà Nội và các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng + Trận Cầu Giấy lần 2: nguyên nhân, lãnh đạo, diễn biến, kết quả, ý nghĩa lịch sử, sự khác biệt trong phản ứng của thực dân Pháp so với sau thắng lợi Cầu Giấy lần thứ nhất. + HIệp ước Hác măng và hiệp ước Pa-tơ-nốt: bối cảnh, nội dung, hệ quả đánh dấu Việt Nam hoàn toàn trở thành thuộc địa của thực dân Pháp - Phong trào kháng chiến chống Pháp cuối thế kỉ XIX + Phong trào Cần vương: nguyên nhân bùng nổ, lãnh đạo, các giai đoạn phát triển, đặc điểm của từng giai đoạn, các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu, cuộc khởi nghĩa nào là tiêu biểu nhất – vì sao? + Khởi nghĩa Yên Thế: nguyên nhân, lãnh đạo, địa điểm, diễn biến, kết quả, ý nghĩa. 10
  11. + Phong trào đấu tranh của đồng bào miền núi: nguyên nhân, lãnh đạo, địa điểm, diễn biến, kết quả, ý nghĩa lịch sử - Trào lưu cải cách duy tân ở Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX. + Bối cảnh: tình hình chính trị - kinh tế - xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX + Các đề nghị cải cách: tên các nhà cải cách, nội dung, kết cục, ý nghĩa của các đề nghị cải cách. * Chuyên đề 2. Xã hội Việt Nam từ năm 1897 đến năm 1918 - Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và những chuyển biến về kinh tế, xã hội ở Việt Nam. + Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp: hoàn cảnh, mục đích, nội dung cuộc khai thác. + Những chuyển biến về kinh tế, xã hội ở Việt Nam: giai cấp cũ phân hoá, hình thành các giai cấp và tầng lớp mới, mâu thuẫn xã hội, hệ quả. - Phong trào yêu nước chống Pháp từ đầu thế kỉ XX đến năm 1918 + Phong trào Đông du: nguyên nhân, lãnh đạo, khuynh hướng chính trị, kết quả, ý nghĩa lịch sử. + Đông Kinh nghĩa thục: thời gian thành lập, người đứng đầu, hoạt động chính, ý nghĩa lịch sử + Phong trào Duy tân và chống thuế ở Trung Kì: nguyên nhân, lãnh đạo, khuynh hướng chính trị, kết quả, ý nghĩa + Chiến tranh thế giới thứ nhất ảnh hưởng đến Việt Nam + Các cuộc đấu tranh trong thời gian diễn ra chiến tranh thế giới thứ nhất: vụ mưu khởi nghĩa ở Huế, khởi nghĩa của binh lính và từ chính trị ở Thái Nguyên, cuộc đấu tranh của đồng bào dân tộc thiểu số + Nguyễn Tất Thành ra đi tìm con đường cứu nước mới: bối cảnh, các hoạt động, ý nghĩa lịch sử. Đề cương ôn tập phải ngắn gọn, làm nổi bật các vấn đề cơ bản nhất của bài học. Trong quá trình bồi dưỡng, GV dựa vào đó để mở rộng phân tích, liên hệ làm sinh động cho nội dung kiến thức chuyên sâu của bài. Cùng với đề cương chi tiết là hệ thống câu hỏi nâng cao, các dạng đề thường gặp để HS tham khảo và có thể tự kiểm tra kiến thức của mình sau khi học xong. Ví dụ trong phần lịch sử thế giới hiện đại (từ năm 1917 đến năm 1945) - chuyên đề 1: Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội (1921-1941) sau phần kiến thức cơ bản, tôi sẽ đưa ra hệ thống câu hỏi bài tập nâng cao cho học sinh như sau: Câu 1.Vì sao năm 1917 ở nước Nga đã diễn ra hai cuộc cách mạng ? Câu 2. So sánh cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII với cách mạng tháng Hai năm 1917 ở Nga. Giải thích vì sao có những điểm giống và khác nhau đó? 11
  12. Câu 3. Lập bảng so sánh các cuộc cách mạng tư sản thời cận đại ( Cách mạng tứ sản Anh, Pháp) với cuộc cách mạng Nga (1905-1907) và cách mạng tháng Mười Nga (1917). CMTS thời cân Cách mạng Nga CMT10 Nga Nội dung đại (1905-1907) (1917) Nhiệm vụ Lãnh đạo Động Lực Tính chất Xu thế phát triển Câu 4. Bằng những sự kiện lịch sử có chọn lọc, hãy làm rõ vai trò của Lê-nin đối thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Mười Nga năm 1917. Câu 5. Nguyên nhân thành công của Cách mạng tháng Mười Nga và bài học kinh nghiệm. Câu 6. So sánh những điểm giống và khác nhau giữa cách mạng tư sản kiểu cũ và cách mạng tư sản kiểu mới. Giải thích vì sao có những điểm khác nhau đó? Câu 7. Phân tích ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 đến phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới và cách mạng Việt Nam. Câu 8. Những bài học kinh nghiệm cách mạng tháng mười nga được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vận dụng ở Việt Nam. Câu 9. Nhận xét, đánh giá về nội dung, tác dụng, ý nghĩa của chính sách kinh tế mới và liên hệ với chủ trương đổi mới kinh tế của Đảng Cộng Sản Việt Nam năm 1986. - Chuyên đề 4. Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945) có các câu hỏi nâng cao: Câu 1. Điểm giống và khác nhau trong nguyên nhân dẫn đến Chiến tranh thế giới thứ nhất và Chiến tranh thế giới thứ hai? Câu 2. Thế nào là chiến tranh thế giới? Câu 3. Lập bảng so sánh giữa cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) với cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945) theo mẫu sau: Nội dung so sánh Chiến tranh thế giới thứ nhất Chiến tranh thế giới thứ hai Nguyên nhân Tính chất Kết cục Câu 4. Sự kiện nào đánh dấu cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai ( 1939 -1945) kết thúc. Nêu ý nghĩa của chiến thắng chống chủ nghĩa phát xít và bài học rút ra từ cuộc chiến tranh này. Câu 5. Trình bày những nguyên nhân chung dẫn đến hai cuộc chiến tranh thế giới trong thế kỉ XX. Nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. 12
  13. Câu 6. Tác động của chiến tranh thế giới hai đến tình hình thế giới? Câu 7. Vai trò của Liên Xô trong chiến tranh thế giới thứ hai? Trong phần chuyên đề 2. Xã hội Việt Nam từ năm 1897 đến năm 1918, chủ đề về “Phong trào yêu nước chống Pháp từ đầu thế kỉ XX đến năm 1918” có các câu hỏi nâng cao như sau: Câu 1. Phân tích hoàn cảnh lịch sử của phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX. Nêu những nét mới của phong trào đó về các mặt: lãnh đạo, lực lượng tham gia, mục tiêu đấu tranh, quy mô. Câu 2. Nêu ý nghĩa lịch sử của phong trào yêu nước và cách mạng ở Việt Nam đầu thế kỷ XX. Câu 3. Trình bày sự khác nhau về điều kiện lịch sử và khuynh hướng chủ yếu trong phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Nêu nhận xét. Nội dung Cuối thế kỉ XIX Đầu thế kỉ XX Điều kiện lịch sử Khuynh hướng chủ yếu trong phong trào yêu nước. Nhận xét . Câu 4. Nêu nguyên nhân dẫn đến phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX có sự xuất hiện của xu hướng bạo động và cải cách. Câu 5. Có hay không sự đối lập giữa xu hướng bạo động và xu hướng cải cách trong phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỉ XX? Vì sao? Câu 6. Nêu tác động của chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) đến tình hình Việt Nam? Câu 7. Trình bày đặc điểm của phong trào yêu nước của nhân dân ta trong thời gian diễn ra chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) Câu 8. Phân tích nguyên nhân ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành. Câu 9. Qúa trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất thành có điểm gì khác so với các vị tiền bối đi trước? Câu 10. Bằng những sự kiện lịch sử có chọn lọc, anh/chị hãy làm sáng tỏ cuộc khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc ở Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1918. Đề cương được tôi chuẩn bị đầy đủ từ đầu năm học, đồng thời trong quá trình bồi dưỡng tuỳ vào khả năng của học sinh tôi sẽ triển khai thêm hoặc thay thế một số nội dung mới cho phù hợp. Tuy nhiên, tôi cũng tránh trường hợp cung cấp cho các em quá nhiều kiến thức nâng cao, khối lượng kiến thức quá lớn làm cho các em chán nản, nguyên tắc của tôi là nắm chắc cơ bản rồi mới phát triển nâng cao và tuỳ từng cá nhân trong đội để cho các em khối lượng kiến thức phù hợp 13
  14. nhằm giảm áp lực và giành thời gian cho các em tự tìm tòi thêm, nâng cao tính tích cực, chủ động trong học tập. c. Xây dựng thời lượng học của các chủ đề, thời khoá biểu Việc sắp xếp thời lượng học của từng chủ đề, thời khoá biểu rất quan trọng. Tuỳ vào khối lượng kiến thức ở từng chủ đề mà sẽ có thời lượng khác nhau, ví dụ: Nội dung Số tiết Phần lịch sử thế giới cận đại (từ năm 1858 18 đến năm 1917) Phần lịch sử thế giới hiện đại (từ năm 1917 20 đến năm 1945) Phần lịch sử Việt Nam từ năm 1858 đến năm 25 1918 Thời khoá biểu học trên lớp theo quy định của nhà trường là chiều thứ ba và chiều thứ năm hàng tuần. 7.2.3.3. Rèn luyện kĩ năng tìm hiểu tài liệu Ngày nay, trong thời đại công nghệ thông tin học sinh có thể dễ ràng tìm được vô số tài liệu về một vấn đề lịch sử từ các nguồn khác nhau như: từ sách, báo, trên mạng Việc tiếp cận thông tin nhanh chóng, với khối lượng lớn nhưng hạn chế là có nhiều thông tin khác nhau, thậm chí đối lập nhau làm cho các em gặp khó khăn trong việc tìm thông tin chính xác, đáng tin cậy. Trong bối cảnh đó, kĩ năng tìm hiểu tài liệu là kĩ năng quan trọng đòi hỏi người giáo viên phải quan tâm rèn luyện cho học sinh. Để khôi phục lịch sử các nhà nghiên cứu, bạn đọc có thể dựa vào các nguồn tư liệu, tài liệu: - Tư liệu hiện vật: là các di dích, đồ vật của người xưa ở trên mặt đất hoặc trong lòng đất. Các tư liệu này phản ánh khách quan, trung thực hiện thực lịch sử. Tuy nhiên, đây được coi là “ tư liệu câm” rất khó khai thác. - Tư liệu chữ viết: là những bản ghi, bản chép tay, sách in, văn bia Các tư liệu này rất phong phú, chiếm hơn một nửa số tư liệu chúng ta có được. Hạn chế của nó là chịu sự chi phối về quan điểm, tư tưởng của người viết. - Tư liệu truyền miệng: là các câu chuyện thần thoại, truyền thuyết cổ tích. Các câu chuyện này không cho chúng ta biết chính xác không gian, thời gian nhưng phần nào phản ánh hiện thực lịch sử. Muốn khai thác loại tư liệu này chúng ta cần tách bỏ lớp bụi thời gian và vỏ bọc hư cấu của nó Mỗi nguồn tư liệu đều có những ưu điểm và hạn chế riêng. Vì vậy, khi tìm hiểu lịch sử các nhà sử học, bạn đọc phải kết hợp nhiều nguồn tư liệu khác nhau đặc biệt là các tư liệu gốc. 14
  15. Bên cạnh nguồn tư liệu có phần hạn chế thì tài liệu phục vụ nghiên cứu và học tập lịch sử có rất nhiều. Để khai thác hiệu quả nguồn tài liệu này tôi thường hướng dẫn học sinh như sau: - Đối với sách : các em nên chọn đọc của các nhà xuất bản nổi tiếng như: nhà xuất bản giáo dục, nhà xuất bản đại học sư phạm hà nội, nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội. Tôi cũng sẽ giới thiệu cho các em một vài quyển sách để các em tìm đọc hoặc cho các em mượn sách tham khảo của mình.Sau khi tìm được các tài liệu cần thiết, các em sẽ tìm hiểu nội dung theo các bước sau: đầu tiên các em xem phần phụ lục có vấn đề nào em đang quan tâm em sẽ đọc mà không phải nghiền ngẫm từ đầu đến cuối sách. Đối với các thông tin cô đọng, đặc sắc trong các trang có thể dùng bút dạ đánh dấu vào câu hoặc đoạn văn bản đó. - Đối với các tài liệu trên mạng; các em cần truy cập vào các trang web như: wikipedia, đảng Cộng sản Việt Nam, tạp chí nghiên cứu lịch sử. Đối với các thông tin trên mạng các em cần tìm nhiều nguồn khác nhau để chọn ra thông tin chính xác nhất. Trong quá trình tìm hiểu tài liệu, tôi khuyến khích các em viết lại những điều mà em thấy tâm đắc hoặc chưa hiểu để thảo luận với bạn bè hoặc với thầy cô. 7.2.3.4. Rèn luyện kĩ năng nhận biết, thông hiểu và vận dụng lịch sử. a.Rèn luyện kĩ năng nhận biết lịch sử. Kỹ năng nhận biết là kỹ năng ghi nhớ các sự kiện, các kiến thức lịch sử cơ bản. Đây được coi là nền tảng kiến thức của học sinh có vai trò rất quan trọng. Kiến thức lịch sử đòi hỏi độ chính xác tuyệt đối về không gian, thời gian, nhân vật. Đây là trở ngại đầu tiên khó khăn làm nhiều học sinh rất ngại học lịch sử, các em rất dễ bị nhầm mốc thời gian của các sự kiện lịch sử, nhầm lẫn giữa các nhân vật lịch sử. Từ kinh nghiệm học tập của bản thân cũng như quá trình giảng dạy cho học sinh, tôi đã rút ra được một vài kinh nghiệm giúp học sinh có thể ghi nhớ sự kiện lâu dài và chính xác như sau: - Thứ nhất: Nắm sự kiện cơ bản nhất trước, các sự kiện nhỏ nhớ sau. Ví dụ trong bài chiến tranh thế giới thứ hai: đầu tiên các em phải nhớ về nguyên nhân bùng nổ chiến tranh là mâu thuẫn giữa các nước đế quốc về vấn đề thuộc địa tiếp tục nảy sinh, sự xuất hiện của chủ nghĩa phát xít, mâu thuẫn giũa các nước đế quốc với nước Nga dẫn đến chính sách nhượng bộ phát xít; thời gian của chiến tranh là từ năm 1939-1945; hai phe đấu tranh với nhau là phe phát xít (Đức, I-ta- li- a và Nhật Bản) và phe đồng minh (đứng đầu là Liên Xô, Mĩ, Anh); cuộc chiến tranh diễn ra trên bốn mặt trận (châu Âu, Bắc Phi, Xô - Đức, chấu Á – Thái Bình Dương), kết quả là phe đồng minh giành thắng lợi còn phe phát xít thảm bại; sau khi năm chắc những kiến thức cơ bản đó rồi các em sẽ mở rộng ra về nguyên nhân thì có nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân sâu sa; về diễn biến nhớ được các sự 15
  16. kiện của từng giai đoạn .Cứ như vậy các em sẽ nhớ các sự kiện một cách tự nhiên, logic hơn, giảm căng thẳng của các em khi phải nhớ caacs sự kiện. - Thứ hai: Các em có thể lập bảng niên biểu ngắn gọn để ghi nhớ sự kiện. Ví dụ trong “bài 22. Sự phát triển khoa học kĩ thuật và văn hoá thế giới đầu thế kỉ XX” tôi hướng dẫn các em lập bảng niên biểu như sau: Tên thành tựu Tên người phát minh - Thứ ba: sử dụng phương pháp sơ đồ tư duy. Tôi sẽ hướng dẫn các em cách ôn tập kiến thức bằng cách vẽ sơ đồ tư duy. Việc thể hiện theo ý hiểu của mình giúp các em dễ nhớ kiến thức hơn, việc trang trí cho sơ đồ tư duy cũng giúp các em hứng thú hơn với việc học lịch sử. Tôi cũng nhắc nhở các em những lưu ý khi học theo phương pháp này: tránh viết quá nhiều chữ nên sơ đồ mà phải chọn những nội dung cơ bản để diễn đạt ngắn gọn, việc trang trí cũng không quá màu mè rối rắm. - Thứ tư: các em có thể ôn tập về các sự kiện lịch sử theo nhóm: một bạn hỏi các bạn khác trả lời sau đó hoán đổi vị trí hỏi và trả lời cho nhau. Việc ôn bài theo nhóm khá hiệu quả, tránh nhàm chán nếu các em nghiêm túc làm việc - Thứ năm: Các em có thể gắn các mốc thời gian trong lịch sử với những sự kiện lớn trong đời mình. Ví dụ có bạn sinh vào ngày 28 – 7 thì đó là ngày Việt Nam gia nhập ASEAN, có em có bà chị sinh năm 1945 là năm kết thúc của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai - Thứ sáu: làm bài tập trắc nghiệm. bài tập trắc nghiệm đòi hỏi vốn kiến thức rộng, đây cũng là một cách hiệu quả để các em ghi nhớ sâu sắc các sự kiện, phân biệt nó với các sự kiện tương đồng. - Thứ bảy: lựa chọn kiến thức để học. Các em sẽ lựa chọn những kiến thức được thầy cô nhấn mạnh nhiều, trên cơ sở học đều các phần kiến thức, tránh học tủ, học lệch. - Thứ tám: đọc hiểu các sự kiện về bản chất để không bị nhầm lẫn. Tôi đều khuyến khích học sinh trong các tiết ôn luyện nếu có vấn đề gì không hiểu thì mạnh dạn hỏi bạn, hỏi cô. Khi hiểu bản chất vấn đề chúng ta sẽ ghi nhớ dễ dàng hơn. Về thời gian học tập, các em nên bố trí thời gian học tập hợp lý, có thời gian nghỉ giải lao, không nên học liền trên bàn ghế nhiều tiếng đồng hồ. Các em cũng không nên thức quá khuya, nên đi ngủ trước 11h và có thể dậy vào sáng sớm ngày mai để học tiếp, thời điểm sáng sớm từ 4h30 đến 6h là “thời gian vàng” để học tập, không gian yên tĩnh giúp các em tập trung học rất tốt. Việc ghi nhớ kiến thức cơ bản là rất quan trọng trong môn lịch sử, tôi hướng dẫn các em vận dụng linh hoạt các phương pháp tôi giới thiệu để ghi nhớ một cách chính xác và lấu dài sự kiện. 16
  17. b. Rèn luyện kĩ năng thông hiểu và vận dụng lịch sử. Trước đây việc học lịch sử nghiêng nhiều về học kiến thức, sự kiện. Ngày nay, yêu cầu về hiểu và vận dụng lịch sử ngày càng cao, đặc biệt với các em thi HSG. Hai kĩ năng này đòi hỏi tính tư duy và sáng tạo ở học sinh Thông hiểu đòi hỏi các em hiểu bản chất sự kiện, hiện tượng lịch sử có thể rút ra đặc điểm, nhận xét, so sánh các sự kiện lịch sử với nhau. Kĩ năng vận dụng trong lịch sử thể hiện ở việc các em rút ra được bài học kinh nghiệm, liên hệ các sự kiện của lịch sử thế giới với lịch sử Việt Nam và ngược lại, liên hệ bài học trong quá khứ để phục vụ cho hiện tại và dự đoán xu thế trong tương lai. Trong quá trình tự bồi dưỡng bản thân và bồi dưỡng học sinh giỏi tôi cũng đã rút ra một số kinh nghiệm trong việc rèn luyện kĩ năng thông hiểu và vận dụng lịch sử như sau: - Thứ nhất: các em phải nắm chắc kiến thức cơ bản, đây là nền tảng từ đó các em phát biểu sự hiểu biết, vận dụng kiến thức lịch sử để giải quyết vấn đề. Nếu không có kiến thức cơ bản chính xác thì phần thông hiểu và vận dụng của các em chỉ mang tính khuôn mẫu, công thức, giáo điều và cũng khó đạt kết quả cao. Ví dụ như trong chiến tranh thế giới thứ hai nếu các em không nhớ đầy đủ về nguyên nhân dẫn đến chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai thì các em sẽ không thể rút ra điểm khác biệt về nguyên nhân dẫn đến chiến tranh thế giới thứ hai có gì khác so với chiến tranh thế giới thứ nhất. Hoặc nếu các em không nhớ nguyên nhân, hành trình đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành và các vị tiền bối thì các em không thể rút ra điểm khác biệt trong quá trình tìm đường cứu nước của Người so với các vị tiền bối. - Thứ hai: trong các giờ học trên lớp cũng như các buổi học bồi dưỡng đội tuyển tôi đều cho các em phát biểu những điều chưa hiểu và yêu cầu các bạn trong đội tuyển phải ghi lại những thắc mắc đó. Tôi cũng thường chuẩn bị những câu hỏi nâng cao trong các giờ học ở trên lớp để các em trong đội thể hiện khả năng học tập của mình trước lớp. - Thứ ba: cho các em làm việc theo nhóm bằng kĩ thuật “khăn trải bàn” để làm những bài tập khó. Đối với những câu hỏi khó trong giờ học bồi dưỡng tôi sẽ không cung cấp ngay cho các em đáp án để các em học thuộc. Điều đó làm thui chột khả năng tư duy của các em, hạn chế thành tích vì câu hỏi trong đề thi rất phong phú không thể trúng hết vào câu hỏi mà tôi đã dạy cho học sinh. Vì vậy, dạy cho các em tư duy là một vấn đề cấp thiết. Trong hoạt động nhóm các em sẽ phát huy được những ưu điểm của từng cá nhân, mỗi bạn một ý đúng, góp lại thành câu trả lời hoàn chỉnh. Sau khi học sinh làm xong sẽ thảo luận với cô và chốt đáp án, cho các em ghi lại vào vở. Ví dụ sau khi học song bài chiến tranh thế giới thứ nhất tôi sẽ đưa ra câu hỏi để các em làm việc nhóm: Từ hậu quả của chiến 17
  18. tranh thế giới thứ nhất, theo em thế hệ trẻ ngày nay cần làm gì để bảo vệ hoà bình thế giới. Các em sẽ viết câu trả lời cá nhân vào từng góc của tờ giấy A4, sau đó thảo luận và viết ý kiến chung của nhóm vào giữa tờ giấy. Làm xong thì các em báo cáo, tranh luận để bảo vệ quan điểm của minh, cuối cùng cô trò chốt đáp án những việc thế hệ trẻ có thể làm để bảo vệ hoà bình thế giới: không ngừng học tập nâng cao kiến thức, khả năng ngoại ngữ, lên án các hành vi sử dụng hoặc đe doạ sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hoà bình, đẩy mạnh hợp tác phát triển kinh tế - văn hoá - thể thao – du lịch giữa các nước trong khu vực và trên thế giới. - Thứ tư: đặt ra các tình huống thực trong hiện tại và yêu cầu các em liên hệ đến những bài học trong lịch sử. Lịch sử là những gì đã qua, nhiều người cho rằng học lịch sử ít có ứng dụng trong thực tế hiện nay. Việc đưa ra những tình huống như vậy kích thích tốt tư duy của các em, các em thấy được tri thức lịch sử được sử dụng trong cuộc sống thường ngày, rất gần gủi. Ví dụ. Cuộc chiến tranh hiện nay giữa nước Nga và U-crai na, tại sao nước Nga mạnh hơn rất nhiều nhưng lại chưa giành được chiến trắng? Vì sao cuộc chiến tranh này không lan rộng thành chiến tranh thế giới? Vì sao chiến tranh ở châu Âu xa xôi mà ảnh hưởng đến toàn thế giới? Đây là những vấn đề thời sự nổi bật hiện nay, để trả lời được câu hỏi này các em cần liên hệ ngược lại quá khứ về mối quan hệ giữa nước Nga và các nước châu Âu, về hệ quả của các cuộc chiến tranh thế giới Việc rèn luyện các kĩ năng nhận biết, thông hiểu và vận dụng lịch sử được tôi thực hiện đều đặn trong các buổi học bồi dưỡng, không thiên về một kĩ năng nào. Tuy nhiên, có sự điều chỉnh cho phù hợp với từng học sinh. Trong đội tuyển có những em tư duy tốt hơn thì cần có những câu hỏi phù hợp để các em thể hiện mình, đối với các em yếu hơn tôi yêu cầu các em học kiến thức cơ bản thất vững chắc trước sau đó phát triển dần tư duy. 7.2.3.5. Rèn luyện kĩ năng, phương pháp làm bài lịch sử Kỹ năng làm bài thi rất quan trọng, là học sinh lớp 8 bắt đầu năm đầu tiên ôn thi học sinh giỏi môn lịch sử nên tôi cũng chú tâm rèn luyện sớm cho các em các kĩ năng, phương pháp làm bài lịch sử. Thực tế, tôi đã gặp trường hợp học sinh có kiến thức rất tốt, tư duy tốt nhưng khi làm bài thi gây thất vọng lớn, tôi đã bỏ rất nhiều thời gian điều chỉnh cách làm bài cho em và thu lại kết quả khá tốt. Để làm bài thi tốt, đầu tiên các em cần có đầy đủ kiến thức lịch sử, sau đó khi trình bày bài làm các em được tôi hướng dẫn các kĩ năng sau: - Bước 1: Đọc đề định hướng cho bài làm. Đây là khâu rất quan trọng, các em phải đọc từng câu một, gạch chân dưới các từ khoá của câu hỏi. Đối với các câu hỏi khó, các em phải đọc đi đọc lại nhiều lần, tránh lạc đề. Việc xác định đúng nội dung câu hỏi là chúng ta đã mở được chìa 18
  19. khoá giúp các em làm tốt nhất bài thi của mình. Các em sau khi được phát đề có thể giành vài phút để đọc đề một cách bình tĩnh, cẩn trọng. Bước 2: phân bố thời gian làm bài cho từng câu: việc phân bố thời gian hợp lí giúp các em bình tĩnh làm bài. Các em dựa vào tổng thời gian bài thi, số lượng các câu hỏi, số điểm của mỗi câu để phân bổ thời gian. Ví dụ đề cho thời gian 120 phút với 5 câu thì bình quân mỗi câu em sẽ viết 20 phút, nhưng có những câu 2 điểm, những câu 4 điểm thì em lại phải chia thời gian cho câu 4 điểm nhiều gấp đôi câu 2 điểm. Nếu trong bài thì em đều làm được tất cả câu hỏi thì nên làm từ câu đầu đến câu cuối, nếu không làm câu dễ trước, câu khó sau. Ttong quá trình làm bài cũng cần chủ động để ý thời gian để điều chỉnh cho hợp lí với mạch làm bài của mình, tránh trường hợp hết giờ vẫn chưa làm xong những câu hỏi mà mình hoàn toàn có thể làm được. - Bước 3: vạch ý chính cho từng câu hỏi. Sau khi xác định được yêu cầu của đề bài các em sẽ vạch ý chính cho từng câu. Điều này tránh trường hợp các em bị trùng ý hoặc thiếu ý, bài làm được sắp xếp hợp lí gọn gàng. Đối với các câu hỏi ít điểm các em tránh mở bài dài dòng mất thời gian mà chỉ dẫn lại yêu cầu của câu hỏi rồi trả lời luôn. - Bước 4. Trình bày bài thi: bố cục bài thi môn lịch sử được trình bày theo dạng một bài văn, các câu hỏi đểu có phần mở bài, thân bài và kết luận: + Phần mở bài cần xác định đúng nội dung yêu cầu để dẫn vào vấn đề. Tuỳ theo khả năng của học sinh mà phần mở bài có thể dài hoặc ngắn nhưng phải nêu được yếu cầu của câu hỏi cần phải giải quyết. + Phần thân bài: chứa đựng những nội dung cơ bản của câu hỏi, cần trình bày các ý rõ ràng, các em có thể đánh dấu các mục lớn bằng dấu hoa thị, dấu gạch đầu dòng, cộng đầu dòng một cách hợp lí, logic, tránh trường hợp viết liền không xuống dòng nhìn bài làm không được thoáng + Phần kết luận: nhấn mạnh lại vấn đề mà câu hỏi yêu cầu Với bố cục ba phần rõ ràng học sinh phải ngắt đoạn bằng việc xuống dòng. Chữ đẹp là một lợi thế đối với các em trong làm bài thi, nếu học sinh nào không viết được chữ đẹp thì bắt buộc phải viết đúng chính tả, chữ to, rõ ràng. Trong môn lịch sử có một số tên riêng cần viết hoa thì các em cũng phải chú ý viết cho đúng. Ví dụ từ “Người” chỉ Nguyễn Ái Quốc thì phải viết hoa .Trong quá trình làm bài nếu các em viết sai một chữ thì dùng bút gạch một gạch chéo qua chữ đó, hoặc viết sai cả đoạn thì dùng thước gạch 2 gạch chéo đoạn đó không được dùng bút xoá hay gạch chằng chịt nhìn mất thẩm mĩ. Nếu sau khi làm xong mới phát hiện thiếu ý ở câu trên thì nên viết xuống cuối bài là phần bổ sung câu bị thiếu mà không phải viết chen chúc vào câu đang thiếu ý. - Bước 5. Kiểm tra lại bài: bước này rất quan trọng, sau khi làm bài xong các em phải đọc lại toàn bộ bài làm của mình một cách cẩn thận, nếu khi kiểm tra xong 19
  20. một lần mà vẫn còn thời gian thì cần đọc lại thêm một lần nữa để kiểm tra về thông tin cá nhân, lỗi chính tả, thời gian các sự kiện, cách diễn đạt sau đó nộp bài thi. Trong quá trình làm bài thi các em phải giữ tâm thế bình tĩnh, dù là câu hỏi chưa từng làm nhưng cứ bình tĩnh phân tích đề tìm ra câu trả lời mà không được hoang mang bỏ qua những câu hỏi khó. Trong phòng thi các em cần làm bài nghiêm túc, không chú ý đến các bạn xung quanh hoặc giám thị dễ bị mất tập trung, quên kiến thức. Kỹ năng, phương pháp làm bài thi rất quan trọng nên tôi chú ý cho học sinh tập luyện nhiều trong quá trình ôn luyện. Tôi thường tổ chức cho học sinh các buổi thi với thời lượng và câu hỏi như thi thật. Sau mỗi bài kiểm tra, tôi chấm chỉ ra những lỗi sai, kịp thời động viên và rút kinh nghiệm cho từng học sinh trong đội giúp các em rèn luyện phương pháp làm bài thi. Nhà trường cũng tổ chức các đợt thi khảo sát học sinh giỏi ở trường và trao quà động viên cho các em có thành tích tốt nhất trong mỗi đội tuyển. 7.2.4. Khả năng ứng dụng và triển khai Qua nghiên cứu đề tài kinh nghiệm và thực hiện trong quá trình giảng dạy, bước đầu tôi đã thu được một số kết quả sau: Học sinh yêu thích, chăm chỉ học tập, ngoài kiến thức do cô giáo cung cấp thì các em đã tự tìm tòi thêm để mở rộng kiến thức lịch sử. Các giờ học sôi nổi và hấp dẫn hơn, các bạn học sinh giỏi đã khuấy động phong trào học tập lịch sử ở trong lớp học, giúp nhiều học sinh khác yêu thích và nhận ra ý nghĩa của bộ môn. Sau quá trình áp dụng những biện pháp nêu trên vào đối tượng là các em học sinh giỏi lớp 8 môn lịch sử, tôi đã đạt được kết quả trong cuộc thi giao lưu học sinh giỏi cấp huyện là: một học sinh đạt giải Nhì cấp huyện trong năm học 2022-2023. 7.2.5. Ý nghĩa của sáng kiến Bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử nói riêng luôn là một nhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi sự đầu tư công sức và tâm huyết rất lớn từ các thầy cô, đề tài đã chỉ ra những giải pháp trong khâu tuyển chọn và bồi dưỡng từ đó nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử cho học sinh lớp 8. 7.3. Phần 3. Phần kết luận 7.3.1. Những bài học kinh nghiệm Giáo viên là một nghề có nhiều sự khác diệt đối với các ngành nghề khác. Điều đó đặt ra những yêu cầu khắt khe đối với những người đứng trên cánh đồng gieo chữ. Chúng ta không thể dạy ai làm bất cứ điều gì, chúng ta chỉ có thể giúp họ khám phá ra điều đó bằng tất cả nhiệt tình, nhiệt tâm của bạn. Có thể nói hoạt 20