Đề kiểm tra, đánh giá cuối học kì I Ngữ văn 9 - Năm học 2022-2023 - Trường THCS Trung Kiên (Có đáp án)
Bạn đang xem tài liệu "Đề kiểm tra, đánh giá cuối học kì I Ngữ văn 9 - Năm học 2022-2023 - Trường THCS Trung Kiên (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_kiem_tra_danh_gia_cuoi_hoc_ki_i_ngu_van_9_nam_hoc_2022_20.doc
Nội dung tài liệu: Đề kiểm tra, đánh giá cuối học kì I Ngữ văn 9 - Năm học 2022-2023 - Trường THCS Trung Kiên (Có đáp án)
- PHÒNG GD&ĐT YÊN LẠC ĐỀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ CUỐI HỌC KÌ I TRƯỜNG THCS TRUNG KIÊN NĂM HỌC 2022-2023 MÔN: NGỮ VĂN 9 Họ và tên: ................................................................. (Thời gian 90 phút, không kể thời gian giao đề) Lớp: ................................SBD................................... I. PHẦN TRẮC NGHIỆM (2,0 điểm). Đọc đoạn trích sau và viết ra tờ giấy thi chữ cái in hoa trước đáp án đúng: Về đến nhà, ông Hai nằm vật ra giường, mấy đứa trẻ thấy bố hôm nay có vẻ khác, len lén đưa nhau ra đầu nhà chơi sậm chơi sụi với nhau. Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu... Ông lão nắm chặt hai tay lại mà rít lên: - Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này? Ông lão bỗng ngừng lại, ngờ ngợ như lời mình không được đúng lắm. Chã nhẽ cái bọn ở làng lại đốn đến thế được. Ông kiểm điểm từng người trong óc. Không mà, họ toàn những người có tinh thần cả mà. Họ đã ở lại làng, quyết tâm một sống một chết với giặc, có đời nào lại cam tâm làm điều nhục nhã ấy!... (Ngữ văn 9, tập 1, NXBGD 2005, tr.166) Câu 1. Đoạn trích trên nằm trong văn bản nào? A. Chiếc lược ngà B. Lặng lẽ Sa Pa C. Làng D. Những ngôi sao xa xôi Câu 2. Tác giả là ai? A. Nguyễn Thành Long B. Kim Lân C. Ngô Tất Tố D. Nguyễn Quang Sáng Câu 3. Tác phẩm có đoạn trích trên sáng tác năm bao nhiêu? A. 1947 B. 1948 C. 1949 D. 1950 Câu 4. Những câu văn: Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu... Tác giả sử dụng hình thức ngôn ngữ nào để thể hiện nhân vật? A. Ngôn ngữ độc thoại B. Ngôn ngữ đối thoại C. Ngôn ngữ độc thoại nội tâm D. Ngôn ngữ trần thuật của tác giả
- Câu 5. Chơi sậm chơi sụi có nghĩa là A. chơi một cách lặng lẽ, kín đáo. B. chơi một cách ồn ào náo nhiệt. C. chơi những trò dại dột nguy hiểm. D. chơi những trò tiêu khiển có hại. Câu 6. Từ in đậm trong đoạn văn: Ông lão bỗng ngừng lại, ngờ ngợ như lời mình không được đúng lắm. Chã nhẽ cái bọn ở làng lại đốn đến thế được là thành phần biệt lập gì ? A. Thành phần cảm thán B. Thành phần tình thái C. Thành phần phụ chú D. Thành phần gọi đáp II. PHẦN TỰ LUẬN (7,0 điểm). Câu 7 (2,0 điểm). Viết một đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ, trình bày suy nghĩ của em về bệnh vô cảm của con người trong xã hội hiện nay. Câu 8 (5,0 điểm). Cảm nhận của em về nhân vật ông Sáu trong đoạn trích “Chiếc lược ngà” của tác giả Nguyễn Quang Sáng? ------------------ Hết----------------- Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm. Họ và tên thí sinh Số báo danh
- ĐÁP ÁN I. Phần trắc nghiệm (2,0 điểm) Mỗi câu trả lời đúng cho 0,5 điểm Câu Đáp án 1 C 2 B 3 B 4 C 5 A 6 B II. Phần tự luận (8,0 điểm) Câu Nội dung Điểm 5 Viết đoạn văn bày tỏ suy nghĩ của em về lợi ích của việc tự học. Trong đoạn văn có một câu sử dụng thành phần phụ chú. 3,0 Gạch dưới thành phần phụ chú đó. a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn: 0,25 Học sinh viết đúng hình thức đoạn văn nghị luận xã hội, bài viết không quá 1 trang giấy thi. b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: 0,25 Lợi ích của việc tự học. c. Nội dung nghị luận: Có thể trình bày nội dung đoạn văn theo các hướng sau: * Giải thích được bệnh vô cảm là gì, thực trạng, biểu hiện, nguyên nhân, hậu quả: - Bệnh vô cảm là một trạng thái tinh thần mà ở đó con người không có tình cảm, cảm xúc nhân bản trước bất kì sự việc hiện tượng nào diễn ra xung quanh họ. Họ sống ích kỉ, lạnh lùng, trái tim băng giá, làm ngơ trước những điều xấu xa, những nỗi bất hạnh, không may của những người sống xung quanh mình. - Bệnh vô cảm xuất hiện ngày càng nhiều, trở thành một vấn nạn trong xã hội. 1,5 - Biểu hiện: (HS nêu biểu hiện và cho ví dụ) + Thờ ơ với những vui buồn, sướng khổ của những người xung quanh. + Chỉ lo nghĩ cho lợi ích cá nhân.
- + Thờ ơ với cái xấu, cái ác, với chính tương lai, cuộc sống của bản thân mình. - Nguyên nhân: + Do lối sống vị kỉ của mỗi người, sợ vạ lây... + Do nhịp sống, guồng quay hối hả đầy tốc độ của xã hội hiện đại. Mọi người bị cuốn vào guồng quay với học tập, lao động, sự nghiệp, công danh mà quên đi tất cả những điều xung quanh... + Một bộ phận giới trẻ được gia đình, bố mẹ nuông chiều, thậm chí lo lắng, sắp đặt sẵn cho tương lai nên họ không cần phải bận tâm đến tương lai sự nghiệp của mình. - Hậu quả: + Nhân cách con người phát triển lệch lạc... + Sự thờ ơ, vô cảm dẫn đến cái xấu, cái ác lên ngôi, xã hội rối loạn... * Đề xuất các giải pháp khắc phục bệnh vô cảm và nêu bài học nhận thức, hành động: - Biện pháp khắc phục: + Luôn mở lòng, yêu thương những người xung quanh, trao yêu thương mà không đòi nhận lại. + Cần lên án mạnh mẽ bệnh vô cảm, coi đó như một cuộc chiến đấu để loại bỏ căn bệnh này ra khỏi xã hội. + Có những biện pháp tuyên truyền, giáo dục đúng đắn; đặc biệt là với giới trẻ. - Bài học nhận thức, hành động: + Bên cạnh lối sống vô cảm vẫn còn rất nhiều người có trái tim yêu thương, hết lòng vì cộng đồng, vì người khác. Lối sống ấy cần đáng trân trọng, ngợi ca. + Nhận thức rõ tác hại của lối sống vô cảm trong xã hội hiện nay, từ đó tránh xa lối sống vô cảm, tích cực trao yêu thương, quan tâm đến mọi người... - Liên hệ bản thân. d. Đảm bảo yêu cầu đề bài: Có ý thức sử dụng thành phần phụ chú khi viết câu, nhận biết được thành phần phụ chú. 0,5 e. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. 0,25 g. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt tốt, mới mẻ. 0,25 6 Cảm nhận của em về nhân vật ông Sáu trong đoạn trích “Chiếc lược ngà” 5,0 a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận: 0,25 Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề.
- b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 0,25 Cảm nhận được vẻ đẹp về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ. c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm: Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách nhưng cần vận dụng các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; đảm bảo các nội dung sau: I. Mở bài 0.5 - Dẫn dắt, giới thiệu về tác giả, tác phẩm. - Giới thiệu nhân vật ông Sáu trong đoạn trích “Chiếc lươc ngà” của Nguyễn Quang Sáng: một người cha có lòng yêu thương con sâu sắc, một người lính trung kiên, dũng cảm. II. Thân bài 0,5 * Khái quát 1. Khái quát - Hoàn cảnh sáng tác: Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” sáng tác 1966, khi tác giả đang hoạt động ở chiến trường Nam Bộ, thời kì cuộc kháng chiến chống Mĩ của dân tộc đang diễn ra ác liệt . - Giới thiệu khái quát về nhân vật ông Sáu : Là người dân Nam Bộ xa nhà đi kháng chiến khi đứa con gái đầu lòng và cũng là duy nhất của anh chưa đầy một tuổi, sau tám năm ông mới có dịp nghỉ phép về thăm nhà, thăm con. * Cảm nhận nhận vật 2,0 2. Cảm nhận về nhân vật ông Sáu : 0,75 a. Ông Sáu là người cha rất mực yêu thương con. (- Khi ở chiến trường ông luôn nhớ mong được gặp con nhưng do hoàn cảnh chiến tranh ông chỉ ngắm nhìn con qua tấm ảnh nhỏ.) * Tình yêu con của ông Sáu trong những ngày nghỉ phép về thăm nhà: - Lúc mới về: + Tình người cha nôn nao quá nên khi gặp lại con sau nhiều năm xa cách khiến ông Sáu không kìm được nỗi vui mừng, xúc động và hạnh phúc. Nhìn thấy con ông vô cùng sung sướng, vồ vập. (Dẫn chứng) + Ông Sáu hụt hẫng, đau đớn, thất vọng khi con gái chưa nhận ra cha: anh đứng sững mặt anh sầm lại hai cánh tay buông xuống như bị gãy - Trong những ngày nghỉ phép: + Ông Sáu không đi đâu xa, luôn vỗ về con, luôn dành hết tình cảm cho con, mong con gọi một tiếng “ba”. Nhưng bé Thu chẳng chịu gọi. Điều đó làm ông rất đau khổ: Anh quay lại nhìn con bé khẽ lắc đầu cười. Có lẽ vì khổ tân đến nỗi không khóc được nên anh đành cười vậy thôi. + Ông Sáu luôn quan tâm, chăm sóc cho con (Dẫn chứng) + Tình yêu thương của người cha trở nên bất lực khi ông Sáu đánh con bé một cái vào mông vì nó đã hất cái
- trứng cá mà ông gắp cho ra khỏi bát làm cơm văng tung tóe. -> Thái độ của con gái làm ông rất đau khổ và bất lực nhưng đằng sau đó là tình yêu thương con thắm thiết. - Lúc chia tay: + Ông muốn ôm con vào lòng nhưng sợ con bé bỏ chạy và kêu nên anh chỉ dám nhìn con từ xa với ánh mắt trìu mến lẫn buồn rầu, ông khẽ chào con: “Thôi, ba đi nghe con!” + Khi nghe con gọi “ba” ông sung sướng nghẹn ngào, hạnh phúc đến trào nước mắt, một tay ôm con, một tay lấy khăn lau nước mắt rồi hôn lên mái tóc của con. -> Đây là giọt nước mắt của niềm hạnh phúc vô bờ bến nhưng nó lại quá ngắn ngủi, bởi đã đến giờ chia tay, ông phải trở lại chiến trường. Lúc đi ông mang theo lời hứa sẽ mang về cho con một cây lược ngà. * Tình cảm thương nhớ con của ông Sáu khi ông trở lại khu căn cứ: - Xa con, ông luôn nhớ con trong nỗi day dứt ân hận vì đã đánh mắng con trong lúc nóng giận. - Lời dặn của con lúc chia tay đã thôi thúc ông tự làm cây lược tặng con: + Khi kiếm được khúc ngà ông hớn hở như một đứa trẻ được quà + Ông dồn hết tình yêu thương và mong nhớ con vào việc làm cây lược ( Dẫn chứng) + Những lúc nhớ con ông thường đem cây lược ra ngắm và chải cho thêm nhẵn, thêm bóng. -> Cây lược đã trở thành kỉ vật thiêng liêng đối với ông Sáu, nó làm vơi đi nỗi ân hạn vì đã đánh con, nó chứa đựng bao tình cảm yêu mến, nhớ thương mong ngóng của người cha với đứa con. Cây lược chính là sự kết tinh của tình phụ tử thiêng liêng. - Ông Sáu đã hi sinh khi chưa kịp trao cây lược cho con gái. Trong giờ phút cuối cùng, không còn đủ sức trăng trối lại điều gì, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được, ông chỉ có thể làm được một việc cuối cùng là đưa tay vào túi, móc cây lược đưa cho bác Ba, người bạn chiến đấu. Đó là lời trăng trối không lời nhưng nó thiêng liêng hơn cả những lời di chúc. Bởi đó là sự ủy thác, là ước nguyện cuối cùng của tình phụ tử. -> Quả thực chiến tranh có thể hủy diệt được mọi thứ nhưng không thể hủy diệt được tình cha con sâu nặng mà nó càng làm cho tình cảm ấy thêm thiêng liêng, bền vững. b. Ông Sáu là một người lính trung kiên, dũng cảm, một người nông dân Nam Bộ giàu lòng yêu nước. - Ông đã tham gia hai cuộc kháng chiến ( chống Pháp và chống Mĩ) - Vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, ông Sáu sẵn sàng xa gia đình, người thân ra đi kháng chiến. Ông gắn bó với chiến trường, hi sinh cả thời trai trẻ và hạnh phúc gia đình, hàng ngày đối mặt với mưa bom bão đạn cũng chỉ mong mỏi đất nước được hòa bình. - Ông Sáu đã đặt trách nhiệm của một người lính, tình yêu nước của một người dân lên trên tình cảm riêng tư: Ông yêu con, thương nhớ con da diết nhưng chưa bao giờ ông từ bỏ nhiệm vụ, ngay cả lần về thăm nhà, thăm con sau tám năm xa cách, khi được con nhận ra và bộc lộ tình cảm thắm thiết, ông rất muốn được ở lại với con, thậm chí được đồng đội gợi ý nhưng ông vẫn quyết định trở lại căn cứ, sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng hi sinh cho
- sự nghiệp giải phóng đất nước. -> Vết sẹo dài trên mặt và sự hi sinh anh dũng của ông là minh chứng cho tinh thần trung kiên, dũng cảm và lòng yêu nước của người chiến sĩ cách mạng. 3. Đánh giá 0,5 - Truyện “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng giúp người đọc cảm nhận được vẻ đẹp của con người trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh. Đó là tình phụ tử thiêng liêng, tình yêu nước sâu nặng. Nhân vật ông Sáu trong tác phẩm đã để lại niềm cảm phục với bao thế hệ bạn đọc. - Nghệ thuật: Xây dựng tình huống truyện bất ngờ mà tự nhiên, hợp lí; miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, chân thực; lựa chọn nhân vật kể chuyện thích hợp III. Kết bài 0,5 - Khẳng định lại giá trị của tác phẩm. - Liên hệ, mở rộng. d. Chính tả, ngữ pháp: 0,25 Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. e. Sáng tạo: 0,25 Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. Tổng điểm 8,0

